Phát biểu trong Diễn đàn đối tác lâm nghiệp diễn ra ngày8-5 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hứa Đức Nhị nói: “Thu hút các nguồn lực đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng là vấn đề có tính chủ đạo, chiến lược trong phát triển lâm nghiệp. Xã hội hóa ngành lâm nghiệp được xem là một trong những công cụ hữu hiệu để thu hút các thành phần kinh tế tham gia sở hữu, quản lý, sử dụng rừng”. Chủ trương ấy thực tế ra sao?
Xã hội hóa: “Rằng hay thì thật là hay...”
Diễn đàn này có chủ đề “Tăng cường xã hội hóa trong ngành lâm nghiệp” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Đối tác hỗ trợ ngành lâm nghiệp (FSSP) phối hợp tổ chức. Xin được nói thêm, Đối tác được hình thành từ năm 2001, với đại diện của Chính phủ Việt Nam và 25 đối tác quốc tế, mục đích nhằm tăng cường đối thoại, hợp tác và cải thiện khung chính sách ngành, hỗ trợ hiệu quả cho Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020.
 |
|
Ảnh minh họa internet |
Trở lại với nội dung Diễn đàn, theo phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Bá Ngãi, Phó cục trưởng Cục Lâm nghiệp, với tư cách là một ngành kinh tế, xã hội hóa ngành lâm nghiệp tại Việt Nam được hiểu là sự tham gia rộng rãi của các chủ thể trong xã hội (như hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng, các tổ chức…) vào thực hiện các hoạt động gây rừng, bảo vệ rừng, khai thác lâm sản và các dịch vụ môi trường. Mục đích là mang lại lợi ích thiết thực cho các chủ thể tham gia, mà trước đó hoạt động này chỉ do cơ quan Nhà nước, thành phần Nhà nước và tập thể quản lý và thực hiện là chủ yếu. Như vậy, có thể hiểu xã hội hóa ngành lâm nghiệp được biểu hiện trên ba nội dung cơ bản. Thứ nhất, có sự tham gia rộng rãi của các chủ thể trong xã hội vào các hoạt động lâm nghiệp. Thứ hai, trước đó đã có một hoặc một số chủ thể trực tiếp quản lý, chi phối. Thứ ba, mục tiêu đạt được của việc xã hội hóa nhằm hướng tới lợi ích của các chủ thể và toàn xã hội.
Những năm qua, xã hội hóa nghề rừng tuy chưa được triển khai mạnh mẽ, đồng bộ, nhưng đã góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế, xã hội miền núi, đồng bào dân tộc ít người. Chẳng hạn tại tỉnh Bắc Kạn, thu nhập từ lâm nghiệp của nhóm hộ thoát nghèo chiếm gần 33% tổng thu nhập, nhóm hộ đời sống khá là 16,8%. Còn ở khu vực Tây Nguyên, thu nhập từ lâm nghiệp của nhóm hộ khá giả là gần 40%, nhóm hộ nghèo là 17%.
Tuy nhiên, một số ý kiến tại Diễn đàn cho rằng, nhận thức về xã hội hóa trong ngành lâm nghiệp của đa số người dân mới chỉ dừng ở mức về “phi tập trung hóa” trong quản lý rừng và đa dạng hóa thành phần kinh tế trong lâm nghiệp. Thực ra, xã hội hóa trong ngành lâm nghiệp là một vấn đề phức tạp, khi triển khai còn rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Đặc biệt là thu hút các nguồn lực đầu tư cho bảo vệ, phát triển, khai thác tiềm năng rừng. Hiện nay, tác động của ngành lâm nghiệp đối với công cuộc xóa đói, giảm nghèo còn hạn chế, chưa tạo ra được nhiều việc làm, thu nhập của người làm nghề rừng còn thấp và chưa ổn định, đa số người dân miền núi chưa sống được bằng nghề rừng.
Thu hút sự tham gia của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Trong tham luận của mình, Tiến sĩ Katherine Warner, Trưởng đại diện IUCN - nhóm ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, tỏ ra là người khá hiểu Việt Nam. Bà cho rằng: Hoạt động lâm nghiệp của nhiều quốc gia ngày càng có nhiều bên, nhiều đối tác tham gia và hỗ trợ. Có thể gồm các cơ quan chính phủ, khu vực tư nhân, các tổ chức phi chính phủ và các thành viên khác trong xã hội. Ngành lâm nghiệp Việt Nam cần mở rộng đối tác, huy động nguồn lực trong phát triển vốn rừng, và cần có một cái nhìn toàn diện hơn về rừng và sử dụng vốn rừng. Trong đó, thành công không chỉ được đo bằng số lượng sản phẩm từ rừng, lượng xuất khẩu hay nguồn thu từ rừng, mà phải “lấy của rừng” đóng góp vào sinh kế người nghèo, phục vụ công cuộc xóa đói nghèo.
Bà chia sẻ kinh nghiệm: Cần phải có sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng bền vững. Nê-pan là một quốc gia rất thành công trong việc này. Ở đó, lâm nghiệp cộng đồng được thực hiện tại các vùng đồi có diện tích hơn 500.000ha (chủ yếu là rừng suy thoái), và đã thu hút sự tham gia của 800.000 hộ. Lâm nghiệp cộng đồng dựa vào các nhóm sử dụng rừng, mỗi nhóm được giao quản lý một diện tích nhất định. Như vậy, Nhà nước được hưởng lợi thông qua việc rừng suy thoái được phủ xanh, còn các nhóm sử dụng rừng có cơ hội tiếp cận nguồn lâm sản.
Thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân vào các hoạt động lâm nghiệp đang là xu hướng tất yếu hiện nay. Thế nhưng, theo ông Đinh Ngọc Minh, Phó vụ trưởng Vụ Kinh tế nông nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Chính sách phát triển lâm nghiệp trong thời gian qua bộc lộ nhiều hạn chế. Điển hình là, chính sách quản lý rừng còn bất hợp lý, Nhà nước trực tiếp quản lý quá nhiều diện tích rừng, chiếm tới 72%, trong khi người dân và các thành phần kinh tế khác thì quá ít, chỉ chiếm 28%. Quá trình tiếp cận quỹ đất để phát triển lâm nghiệp của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh còn nhiều khó khăn, công tác giao đất, giao rừng tiến hành rất chậm và chưa có quy trình hướng dẫn cụ thể; chính sách cho vay ưu đãi để trồng rừng chủ yếu là đối với các doanh nghiệp nhà nước, còn người dân và các thành phần kinh tế khác rất khó tiếp cận nguồn tín dụng đầu tư.
Vẫn theo ông Đinh Ngọc Minh, cần phải đẩy nhanh việc giao đất, giao rừng cho các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình, trong đó cần xây dựng quy trình về giao đất, giao rừng để hướng dẫn các địa phương thực hiện. Bên cạnh đó, cần thí điểm cổ phần hóa các lâm trường quốc doanh theo tinh thần Nghị quyết số 28 (ngày 16-3-2003) của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh.
Sẽ mạnh dạn giao đất, giao rừng
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hứa Đức Nhị khẳng định, sẽ tiếp tục thu hút các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tham gia vào hoạt động lâm nghiệp. Ngoài diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ có tầm quan trọng quốc gia và một số khu rừng sản xuất, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được bình đẳng tham gia vào 75% diện tích rừng sản xuất, 30% diện tích rừng phòng hộ và 15% diện tích rừng đặc dụng, phấn đấu đến năm 2010, về cơ bản, tất cả diện tích rừng và đất lâm nghiệp phải được giao, cho thuê với các chủ rừng thuộc mọi thành phần kinh tế.
Xã hội hóa trong ngành lâm nghiệp được coi là phương thức để đạt mục tiêu tạo thêm 2 triệu việc làm mới trong lâm nghiệp, tăng thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo 70% số hộ trong vùng lâm nghiệp như đã xác định trong Chiến lược phát triển của ngành lâm nghiệp.
Hùng Hương