QĐND Online - Hiện nay, Tổng công ty truyền tải điện 1 (NPT) quản lý 3.758km ĐZ 500kV, 9.400km đường dây 220kV, 13 trạm biến áp 500kV tổng dung lượng là 8.400 máy biến áp (MVA) và 57 trạm biến áp 220kV tổng dung lượng là 19.977 MVA, tổng dung lượng các máy biên thế (MBA) 110 KV tại các trạm 220-110 KV là 2.704 MVA.
 |
|
Sản lượng truyền tải 8 tháng đầu năm 2010 toàn hệ thống là 54.123 GWh, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm 2009.
|
Sản lượng truyền tải 8 tháng đầu năm 2010 toàn hệ thống là 54.123 GWh, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm 2009. Dự báo, giai đoạn 2010- 2012, công suất và sản lượng điện truyền tải tiếp tục tăng cao.
Khó khăn lớn nhất của lưới điện truyền tải quốc gia hiện nay là chưa có khả năng dự phòng. Lưới điện truyền tải 500kV Bắc Nam và các đường dây 220 kV thường xuyên vận hành trong trạng thái đầy và quá tải. Điều đó dẫn đến tăng tổn thất và nguy cơ sự cố trên hệ thống. Bên cạnh đó, lưới điện truyền tải chưa đảm bảo được được yêu cầu an toàn theo tiêu chuẩn n-1, đặc biệt, tại những khu vực quan trọng như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh
Với mục tiêu đầu tư lưới điện truyền tải đi trước một bước phục vụ thị trường điện cạnh tranh, giai đoạn 2008- 2009, NPT đã đưa vào vận hành 92 công trình. Năm 2010 phấn đấu đóng điện 50- 60 công trình (đến nay đã đóng điện 24 công trình), trong đó có những công trình rất quan trọng như đường dây 500kV Quảng Ninh- Thường Tín; đường dây 500kV Sơn La- Hòa Bình- Nho Quan để tải điện từ Nhà máy thủy điện Sơn La.
Toàn bộ các công trình lưới đồng bộ với các nhà máy đều đóng điện đúng tiến độ, đảm bảo truyền tải hết công suất vào hệ thống điện quốc gia như các công trình đồng bộ với nhà máy thủy điện A Vương, Hạ Sông Ba, Quảng Ninh, khu vực Tây Nguyên, Ô Môn…. Bên cạnh đó, hàng loạt các công trình đảm bảo điện cho các khu vực quan trọng như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, các công trình chống quá tải đều đóng điện đúng tiến độ, góp phần hoàn thành nhiệm vụ cung cấp điện thời gian qua.
Năm 2011, NPT phấn đấu sản lượng truyền tải đạt 93-95 tỷ kWh, đến năm 2015 đạt 160-180 tỷ kWh, tăng gấp đôi so với năm 2010, tổn thất đạt mức 2,5-3%, giảm thiểu tối đa sự cố. Hiện NPT đang đầu tư đồng bộ các công trình đấu nối nguồn điện vào hệ thống điện quốc gia và các công trình 220-500kV truyền tải công suất và điện năng từ hệ thống điện quốc gia cho lưới điện phân phối hợp lý, hiệu quả; Nâng cao độ tin cậy của lưới điện truyền tải các khu vực trọng điểm và thành phố lớn; Phối hợp đấu nối lưới điện truyền tải khu vực tiểu vùng sông Mêkông để tăng cường trao đổi điện.
Để đạt được những kết quả trên, NPT kiến nghị Chính phủ hoặc đơn vị được Chính phủ ủy quyền bảo lãnh cho các khoản vay của NPT. Với nguồn ODA, NPT được vay lại như lãi suất của nước ngoài cho Chính phủ Việt Nam vay. Miễn thu thuế sử dụng đất khi giao đất xây dựng các công trình lưới điện truyền tải. Chuyển chủ đầu tư các dự án vay vốn ODA từ EVN sang cho NPT. Các Ngân hàng thương mại cho NPT vay vượt 15% vốn tự có để bảo đảm vốn đầu tư. Các địa phương thực hiện tốt công tác đền bù giải phóng mặt bằng để tạo thuận lợi cho việc thi công công trình, đảm bảo tiến độ các công trình lưới điện truyền tải quốc gia.
Đỗ Hà