 |
| Mô hình dự án KCN cao Hòa Lạc |
Nhật Bản quyết tâm hợp tác với Việt Nam thực hiện 3 dự án cực lớn là Dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, Dự án đường bộ Bắc Nam, và dự án phát triển Khu công nghệ cao Hoà Lạc.
Phát biểu tại buổi họp báo nhân kết thúc phiên họp về Sáng kiến chung Việt - Nhật giai đoạn 2 tại Hà Nội gần đây, ông Norio Hattorry- Đại sứ Nhật Bản cho biết, Chính phủ Nhật Bản xem xét một cách nghiêm túc và xin được hợp tác một cách tích cực đối với những đề xuất của phía Chính phủ Việt Nam về 3 dự án này.
Liên quan đến dự án đường sắt Bắc – Nam, đại sứ cho biết, một nhóm nghiên cứu của 4 doanh nghiệp Nhật Bản và một số nghị sĩ Nhật Bản đã được thành lập để hỗ trợ dự án này.
Tuy nhiên để thực hiện dự án đường sắt cao tốc cần sự khảo sát cẩn thận. “Phía Việt Nam phải chuẩn bị như kế hoạch giải phóng mặt bằng, khoảng không gian, hoàn thiện quy định về thể chế pháp luật để đảm bảo rằng có thể vận hành tốt”, đại sứ nói.
Liên quan đến Dự án công nghệ cao Hoà Lạc, việc đánh giá lại quy hoạch của khu công nghệ này đã được JICA kết thúc vào tháng 8 vừa qua. Hiện nay báo cáo điều chỉnh cuối cùng đang được trình lên để Chính phủ Việt Nam xem xét. Sau khi phê duyệt điều chỉnh quy hoạch này, JICA sẽ tiếp tục thực hiện nghiên cứu khả thi.
“Tất nhiên còn phù thuộc kết quả nghiên cứu khả thi, nhưng chúng tôi mong muốn cấp ODA một phần cho dự án trong năm tài khóa mới. Tôi được biết, một số doanh nghiệp tư nhân Nhật đang xem xét để đầu tư vào khu công nghệ cao này”, ông cho biết thêm.
“Ngày 25-11 tới Chủ tịch Nguyễn Minh Triết sẽ thăm Nhật. Và hi vọng sẽ có kết quả nào đó với dự án Hòa Lac,” đại sứ nói.
Cũng tại buổi họp báo, Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Võ Hồng Phúc cho biết, Sáng kiến chung Việt Nam Nhật Bản giai đoạn 2 từ năm 2006 đến nay đã đưa ra 80 vấn đề cần giải quyết. Hầu hết các vấn đề này đều được 2 bên thống nhất giải quyết và nêu ra giải pháp cụ thể. Tuy nhiên, đến nay chỉ còn duy nhất 2 vấn đề còn phải tiếp tục giải quyết là vấn đề nhập khẩu ô tô đã qua sử dụng và danh mục các mặt hàng cấm nhập khẩu và nhập khẩu có điều kiện.
Cả hai phía cam kết nghiên cứu giai đoạn 3 để hoàn thiện hơn nữa môi trường đầu tư của Việt Nam. Tôi cho rằng với các biện pháp mà 2 bên đã đưa ra và thống nhất với nhau thì môi trường đầu tư của VN đã không nhừng hoàn chỉnh và đầu tư Nhật bản – Việt Nam đã được tăng cường, đồng thời các đầu tư từ các khu vực khác vào VN cũng không ngừng gia tăng. Chính vì vậy đầu tư của các nước vào Việt Nam từ năm 2006, 2007 đã không ngừng gia tăng. Đó là nhờ kết quả của sáng kiến chung này.
- Vấn đề nhập khẩu ô tô đã qua sử dụng vẫn còn tồn tại trong Sáng kiến chung. Phía Nhật Bản có quan điểm thế nào về việc nhập khẩu ô tô này và việc giảm thuế trong thời gian vừa qua có ảnh hưởng gì đối với các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam?
- Bộ trưởng Võ Hồng Phúc: Ở giai đoạn này, chúng tôi tránh đưa ra ý kiến tranh luận, chỉ thảo luận với nhau là nội dung này sẽ được trao đổi ở giai đoạn tiếp theo và nộidung này sẽ được bàn thoả trong khuôn khổ đàm phán FTA vì nó cũng còn liên quan đến vấn đề thuế nữa.
- Có ý kiến cho rằng, ngành công nghiệp ô tô của Việt Namđãthất bại khi tỷ lệ nội địa hóathấp,giá cao, dù được bảo hộ trong thời gian dài. Ông đánh giá như thế nào về nhận xét trên?
- Bộ trưởng Võ Hồng Phúc: Sáng kiến này không đặt định hướng cho một ngành nào cả, nó chỉ tạo ra môi trường đầu tư ngày càng thuận lợi cho tất cả doanh nghiệp các nước. Đối với ngành công nghiệp ô tô, chính phủ Việt Nam quan niệm rằng, sẽ thực hiện đúng các cam kết WTO để việc giảm thuế nhập khẩu đúng với cam kết. Bên cạnh việc bảo hộ cho các nhà sản xuất, chúng ta cũng phải nghĩ đến việc bảo hộ cho cả người tiêu dùng. Trong xu hướng đó, doanh nghiệp nào đáp ứng được các yêu cầu đó thì sẽ tồn tại. Còn các doanh nghiệp không đảm bảo cạnh tranh thì có lẽ phải chuyển hướng khác. Đó là quy luật của cạnh tranh.
Theo VTC