Hôm qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI đã khai mạc phiên họp thứ 11. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng cho biết: Phiên họp sẽ nghe báo cáo về tình hình cổ phần hóa, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; cho ý kiến một số dự án luật; thông qua pháp lệnh.
 |
|
Kiểm tra hồ sơ tham gia đấu giá cổ phần của Công ty kinh doanh mỹ nghệ vàng bạc đá quý (thuộc Ngân hàng NN&PTNT). Ảnh: TTXVN |
Ngày đầu của phiên họp, tình hình cổ phần hóa và thực hiện chính sách đất đai, bán cổ phần đã được đặt lên bàn nghị sự. Vấn đề mà nhiều cử tri rất quan tâm là việc mua bán cổ phiếu của người lao động, vai trò của họ nhất là khi thị trường chứng khoán trong trạng thái bồng bềnh...
Khuyến khích người lao động có vai trò trong doanh nghiệp
Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà thì việc bán cổ phần ưu đãi cho người lao động là một chính sách của nhà nước, không ngừng được hoàn thiện, tăng tính công khai, minh bạch, bảo đảm công bằng và giải quyết hài hòa các lợi ích.
Đối với doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa trước Nghị định số 187 năm 2004 thì người lao động được mua tối đa 10 cổ phần cho mỗi năm đã làm việc thực tế tại khu vực nhà nước, với giá giảm 30% so với mệnh giá ban đầu (mệnh giá một cổ phần là 100.000 đồng). Nghị định này sau đó thay thế bằng Nghị định 109 năm 2007, kể từ đó đến nay, người lao động được mua tối đa 100 cổ phần (mệnh giá một cổ phần là 10.000 đồng) cho mỗi năm thực tế làm việc tại khu vực nhà nước, với giá giảm 40% so với giá đấu thành công bình quân bán cho nhà đầu tư khác.
|
* Tính đến 30-6-2008, cả nước đã sắp xếp được 5.041 doanh nghiệp, trong đó: cổ phần hóa 3.786 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp (chiếm 75% tổng số doanh nghiệp đã sắp xếp); giao 196 doanh nghiệp, bán 154 doanh nghiệp, khoán và cho thuê 30 doanh nghiệp; sáp nhập, hợp nhất 513 doanh nghiệp (chiếm 10%); các hình thức khác (giải thể, phá sản, chuyển thành đơn vị sự nghiệp có thu, chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn) 749 doanh nghiệp (chiếm 15%) (Phụ lục 1). |
Theo báo cáo của các bộ, ngành, địa phương, chính sách bán cổ phần ưu đãi cho người lao động được thực hiện một cách nghiêm túc. Tổng hợp 3.786 doanh nghiệp đã được cổ phần hóa thì tỷ lệ trung bình người lao động trong doanh nghiệp mua cổ phiếu chiếm 12% vốn điều lệ.
Theo số liệu báo cáo của hơn 800 doanh nghiệp đã thực hiện cổ phần hóa từ khi Nghị định số 187 được ban hành cho thấy, tỷ lệ người lao động có tên trong danh sách tại thời điểm doanh nghiệp cổ phần hóa tham gia mua cổ phần đạt 85%. Số cổ phần người lao động được mua ưu đãi bình quân là 1.086 cổ phần/ người lao động. Tỷ lệ cổ phần được mua ưu đãi mà người lao động còn giữ sau một năm so với thời điểm cổ phần hóa là 75%; sau 2 năm là 63%; sau 3 năm là 54%.
Như vậy, phần lớn người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hóa đều tham gia mua cổ phần. Các chính sách đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với người lao động, phát huy quyền làm chủ, sự gắn bó của người lao động với doanh nghiệp
Không thể làm chủ khi số vốn thấp...
Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thành lập đoàn giám sát chuyên đề “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về xử lý đất đai và mua bán cổ phiếu trong thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước". Những bất cập trong bán cổ phần ưu đãi cho người lao động được khái quát như sau:
Do quy định cổ phần bán cho người lao động tính theo năm công tác, mỗi năm không quá 100 cổ phần với mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu, dẫn đến người lao động được mua cổ phần quá ít so với tổng số vốn điều lệ. Thu nhập từ cổ tức của họ không nhiều so với tiền lương, vì vậy người lao động cũng không mặn mà với số cổ phần họ có và số cổ tức được chia hằng năm. Tập thể người lao động cũng không thực sự có quyền làm chủ khi vốn cổ phần của họ chỉ chiếm từ 11 đến 15% vốn điều lệ. Những người thâm niên cao là những người sắp nghỉ chế độ, do vậy sự gắn bó với doanh nghiệp cũng hạn chế.
Việc quy định người lao động được mua giá giảm từ 30 đến 40% trên giá bán công khai hoặc giá đấu thành công trên thị trường chứng khoán là một sự ưu đãi. Song người lao động cho rằng còn quá cao so với thu nhập của họ, nhất là trong điều kiện thị trường chứng khoán "nóng” như năm 2007 và “lạnh” như hiện nay. Thế là sự ưu đãi gây thiệt thòi cho người lao động. Thực tế được nêu lên có nhiều trường hợp đáng lưu ý. Chẳng hạn, Ngân hàng Vietcombank, mức đấu giá bình quân trên sàn giao dịch là 100.000 đồng/cổ phiếu, giá ưu đãi bán cho người lao động tại ngân hàng bằng 60% là 60.000 đồng/cổ phiếu. Nhưng hiện nay giá cổ phiếu này giảm xuống 44.500 đồng/cổ phiếu, người lao động chịu thiệt 15.500 đồng/cổ phiếu. Tương tự, tại Công ty cổ phần đầu tư phát triển đô thị Sông Đà, một cổ phiếu khi thị trường chứng khoán nóng nhất đã đạt mức giá 448.000 đồng, mức thấp nhất chỉ còn 103.000 đồng. Công ty gạch men Thăng Long một cổ phiếu lúc cao nhất 143.800 đồng, lúc thấp nhất là 28.800 đồng.
Do thu nhập thấp, vốn ít, phải đi vay ngân hàng, giá bán cổ phiếu cao; chế tài quy định chưa rõ ràng nên người lao động dễ “bán lúa non” cổ phần của mình. Thế là vốn thực sự của doanh nghiệp sẽ tập trung vào một số người. Theo báo cáo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, trong tổng số 356.648 lao động đã mua cổ phần với giá ưu đãi thì có 60.331 người đã bán hoặc bán tiêu chuẩn cổ phần ưu đãi, chiếm 16,91% số đã mua cổ phần ưu đãi.
Ở một số nơi có biểu hiện lợi dụng cơ chế, chính sách trong việc mua bán cổ phần, bán ưu đãi cho người lao động, không tổ chức bán đấu giá mà bán bằng mệnh giá, gây tổn thất cho Nhà nước.
|
* Tổng giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nói trên khi cổ phần hóa là 78.070 tỷ đồng. Về cơ cấu vốn khi cổ phần hóa, Nhà nước nắm giữ 53.926 tỷ đồng, bằng 50% vốn điều lệ; người lao động nắm giữ 12.978 tỷ đồng, bằng 12% vốn điều lệ; nhà đầu tư chiến lược nắm giữ 4.435 tỷ đồng, bằng 4% vốn điều lệ; các nhà đầu tư khác nắm giữ 36.351 tỷ đồng, bằng 34% vốn điều lệ.
* Từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 Khoá IX (năm 2001), đã giảm từ 5.655 doanh nghiệp xuống còn 1.824 doanh nghiệp (cuối năm 2007). Trong giai đoạn 2008-2010, Chính phủ sẽ tiếp tục phải sắp xếp 1.535 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa 948 doanh nghiệp. |
Hướng mở trong thời gian tới
Những ý kiến nêu lên rất nhiều, nhưng hướng chính là nghiên cứu sử dụng một phần vốn tự có của doanh nghiệp để hình thành cổ phần của người lao động, người lao động được hưởng lãi nhưng không được rút cổ phần này khỏi doanh nghiệp. Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp cổ phần hóa sử dụng nhiều lao động và có quy định cho phép chuyển nợ thành vốn góp cổ phần hóa.
Theo Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì cần tiếp tục thực hiện bán cổ phần ưu đãi cho người lao động nhưng theo mệnh giá và số năm công tác. Họ được hưởng mọi quyền lợi đối với cổ phần được cấp như hưởng cổ tức, dự đại hội cổ đông, bầu cử, ứng cử, trừ quyền duy nhất là không được chuyển nhượng cổ phần, trừ trường hợp nghỉ hưu hoặc chuyển khỏi doanh nghiệp.
Chính phủ có quy định để những người lao động trong doanh nghiệp được mua một tỷ lệ cổ phần nhất định trong tổng số vốn điều lệ, mua trả chậm, sử dụng quỹ khen thưởng phúc lợi còn lại của doanh nghiệp để thành lập Quỹ công đoàn. Công đoàn sử dụng quỹ này để mua cổ phần theo quy định của Nhà nước, tạo điều kiện cho tổ chức của mình tham gia quản lý, bảo vệ quyền lợi của người lao động, góp phần bảo đảm cơ cấu vốn hợp lý trong doanh nghiệp.
Nhiều ý kiến trở lại vấn đề nóng lâu nay là tách chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước từ cơ quan quản lý nhà nước sang cơ quan kinh doanh. Như vậy sẽ xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính và tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả quản lý, kinh doanh vốn nhà nước tại các doanh nghiệp. Giao cho Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước làm đầu mối quản lý phần vốn nhà nước góp tại các doanh nghiệp khác (trong đó có công ty cổ phần), bao gồm cả vốn nhà nước tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, công ty mẹ sau cổ phần hóa. Qua đó xóa bỏ chế độ chủ quản đối với doanh nghiệp.
Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên khẳng định: Đây là một trong hai vấn đề cốt lõi nhất của cổ phần hóa. Hàng loạt vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết theo các góc độ khác nhau. Bảo đảm những người lao động đều có cổ phần ưu đãi. Rõ ràng, chăm lo cho quyền lợi người lao động, nhất là phát huy vai trò người làm chủ thì phải xây dựng, điều chỉnh và thực hiện một hệ thống giải pháp, cả chính trị và kinh tế, xã hội.
Việt Thúy Hằng