 |
|
Ngành thủy sản Việt Nam sẽ đủ khả năngkhi gia nhập WTO |
Cùng cả nước gia nhập WTO, ngành thủy sản hiểu rằng cần phải "thuộc bài”, biết rõ các luật chơi trước khi bắt tay với đối tác. Điều cốt yếu nhất là năng lực cạnh tranh của chính doanh nghiệp và của cả ngành-Đó là điều mà PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng, Tổng Thư ký Hiệp hội chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (Vasep) đã tâm sự.
Năm nay, ngành thủy sản gặp nhiều khó khăn ở đầu vào, giá dầu leo thang dẫn đến nhiều tàu thuyền phải nằm bờ, các cơn bão làm hàng trăm ngư dân chết và mất tích, cá ngừ mất mùa, vụ tôm nuôi muộn, giá cá tra lên xuống thất thường... Vậy mà doanh nghiệp thủy sản vẫn tạo ra được sự chuyển dịch về cơ cấu thị trường với việc lần đầu tiên xuất khẩu sang thị trường EU vượt Mỹ, cao ngang Nhật; về cơ cấu, giá trị xuất khẩu thì cá gần bằng tôm. Hiện Việt Nam đã được xếp vào vị trí thứ 7 về xuất khẩu thủy sản trên thế giới và là một trong những cường quốc về thủy sản. Việc gia nhập WTO sẽ có nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp thủy sản, vì qua đàm phán đã dỡ bỏ bớt những chính sách bảo hộ sản xuất nông nghiệp nội địa của các thị trường lớn và có thể tham gia đấu tranh, chống lại những vụ kiện bất công.
Từ thị trường truyền thống Nhật Bản mở sang thị trường châu Âu rồi sau khi ký hiệp định song phương với Mỹ, Việt Nam đã tạo ra 3 thị trường chân kiềng lớn nhất. Chính vì vậy, các doanh nghiệp thủy sản đã quen với luật chơi của các nước này cũng như những luật chơi mang tính chung của WTO. Qua đó thủy sản Việt Nam cũng thích nghi được với những luật chơi này. Thị trường EU là một ví dụ, Việt Nam có tới 170 doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn xuất khẩu thủy sản và khả năng còn lên tới trên 200 doanh nghiệp. Trước kia, khi còn ở “danh sách hai”, chúng ta chỉ xuất khẩu vào được từng nước nay đã lọt được vào “danh sách một” thì việc này dễ dàng hơn nhiều.
Những gì mà EU đã chấp nhận được ở thủy sản Việt Nam thì đương nhiên WTO cũng chấp nhận, đặc biệt là về 3 hàng rào: quy chế về an toàn vệ sinh chất lượng thủy sản, các mức giới hạn cho phép cũng như quy trình thực hiện, cơ quan kiểm duyệt về chất lượng thủy sản Việt Nam (NAFIQAVED) và điều kiện sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam.
Hội nhập, mà cụ thể là gia nhập WTO, với các doanh nghiệp ngành công nghiệp hay dịch vụ có vẻ rất đáng lo lắng chứ với doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản thì chuyện hội nhập là chuyện thường ngày mà họ đã làm từ nhiều năm về trước rồi. Tuy nhiên, nói là không đáng lo để cho vui và động viên tinh thần các doanh nghiệp chứ trên thương trường, dù có từng trải đến mấy cũng không lượng định được hết nỗi đoạn trường.
Một trong những cái khó là an toàn vệ sinh thực phẩm trong thủy sản, luật pháp thương mại quốc tế, đặc biệt là hiểu rõ về pháp luật trong tranh chấp thương mại. Một số cách nghĩ của các doanh nghiệp từ nền kinh tế tiểu nông không thể áp dụng trong việc giao lưu với thị trường thương mại thế giới và vấn đề liên quan đến năng lực canh tranh của các doanh nghiệp. Điểm yếu rõ nhất của ngành thủy sản hiện nay là sự mất cân đối giữa khu vực sản xuất nguyên liệu và chế biến xuất khẩu hay nói rõ hơn, khu vực sản xuất nguyên liệu chưa đáp ứng được nhu cầu và chưa theo kịp được khu vực chế biến xuất khẩu. Bên cạnh đó, trình độ quản trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam cũng còn rất thấp so với các đối thủ cạnh tranh nên đây cũng là hạn chế lớn cần khắc phục.
Vấn đề thương hiệu là một thách thức lớn nữa mà ngành thủy sản đang phải đối mặt. Các mặt hàng thủy sản Việt Nam đang được xuất khẩu thông qua các nhà nhập khẩu và được phân phối dưới nhiều thương hiệu khác nhau. Một số sản phẩm có chất lượng cao đã bắt đầu xuất hiện trên thị trường quốc tế với thương hiệu của riêng mình, nhưng số đó vẫn còn ít.
Theo ông Trương Đình Hoè-Phó Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam thì, cái cần nhất của các doanh nghiệp thủy sản khi gia nhập WTO là phải trang bị đầy đủ các kiến thức về thông lệ, luật lệ quốc tế. Phải rõ ràng và minh bạch về chất lượng sản phẩm. Đặc biệt là tập trung củng cố nguồn nguyên liệu xuất khẩu, nhất là khả năng truy xuất nguồn gốc, các chứng chỉ kiểm soát quá trình không chỉ trong chế biến mà những giai đoạn sản xuất sản phẩm trước đó.
Để hạn chế rủi ro trên thị trường thế giới, doanh nghiệp cần luôn luôn và tiếp tục cập nhật thông tin liên quan đến tiêu chuẩn, hệ thống chứng nhận chất lượng ở các thị trường để kịp thời yêu cầu các nhà nhập khẩu nước ngoài. Vấn đề vướng mắc của doanh nghiệp là có rất nhiều hệ thống chứng nhận khác nhau, khi có ISO thì đối tác đòi thêm ACC, EuroGap…
Một yếu tố khác không kém phần quan trọng là năng lực cạnh tranh. Bước vào một sân chơi bình đẳng như WTO, chỉ có con đường cạnh tranh các doanh nghiệp mới không bị thua thiệt ngay trên sân nhà. Tất nhiên trong việc nâng cao năng lực canh tranh, chúng ta không thể dàn hàng ngang cho tất cả các sản phẩm thủy sản mà phải lựa chọn sản phẩm có tính khả thi cao. Tuy nhiên vấn đề lớn nhất hiện nay chính là giá thành. 10 năm trước, giá thành là lợi thế của ngành thủy sản, nhất là với con tôm nhưng giờ thì lợi thế này đang mất dần.
Để đối phó với các rào cản thương mại mới khi gia nhập WTO, Hiệp Hội chế biến và xuất khẩu thủy sản-Bộ Thủy sản đã hình thành các Ủy ban ngành hàng để tận dụng triệt để sự phối hợp, hợp tác giữa các nhóm ngành theo hướng phát triển các mối liên kết giữa doanh nghiệp cùng ngành hàng. Bên cạnh đó việc liên kết giữa người sản xuất nguyên liệu và nhà chế biến cũng là một định hướng hết sức quan trọng của Hiệp hội. Hai mối liên kết này sẽ được hiệp hội ưu tiên cao nhất, ít nhất là trong 5 năm tới để tăng năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu cũng như để tập trung lực lượng đối phó với các rào cản thương mại nảy sinh. Ngoài ra, việc trực tiếp liên kết với các khách hàng của từng thị trường đặc thù cũng được chú trọng thực hiện.
Hồng Minh