QĐND - Mặc dù ngành Than Việt Nam đã khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, tuy nhiên, vẫn còn những đánh giá cho rằng: Ngành Than "bóc ngắn, cắn dài" tài nguyên; ngành than yếu trong quản lý khai thác, bảo vệ môi trường… Về vấn đề này, ông Nguyễn Khắc Thọ - Phó tổng Cục trưởng, Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương), đã có cuộc đối thoại với chúng tôi xoay quanh những hoạch định ngành than trong tương lai, ngay sau khi có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành than.
 |
|
Ông Nguyễn Khắc Thọ.
|
Bể than Đồng bằng sông Hồng không ảnh hưởng đến an ninh lương thực
- Trong quy hoạch phát triển ngành Than được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, bể than Đồng bằng sông Hồng được triển khai như thế nào, thưa ông?
- Tôi có thể nói một cách vắn tắt như sau: Trong kế hoạch 2012-2015, bể than Đồng bằng sông Hồng sẽ được triển khai thăm dò một số diện tích chứa than có triển vọng, có điều kiện địa chất mỏ phù hợp. Trên cơ sở kết quả điều tra, đánh giá tổng thể tài nguyên than (phần đất liền bể than Đồng bằng sông Hồng) và kết quả triển khai dự án thử nghiệm tiến hành thăm dò mở rộng, ngành Than phấn đấu đến năm 2030 sẽ cơ bản hoàn thành công tác thăm dò phần diện tích chứa than có điều kiện khai thác thuận lợi, thuộc khối nâng Khoái Châu - Tiền Hải. Về quy hoạch khai thác, bể than Đồng bằng sông Hồng sẽ được đầu tư khai thác thử nghiệm theo công nghệ khai thác hầm lò và công nghệ khí hóa than ngầm.
- Thưa, bể than Đồng bằng sông Hồng lại nằm dưới một vựa lúa của quốc gia, được mọi người quan tâm về bảo đảm an ninh lương thực và vấn đề môi trường. Bộ đã có giải thích gì về điều này?
- Đúng là bể than Đồng bằng sông Hồng nhạy cảm về môi trường, môi sinh và liên quan đến vấn đề an ninh lương thực. Vì thế, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Công Thương hoàn thành quy hoạch phát triển bể than sông Hồng với bước đi thận trọng, bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài. Đầu tiên, ngành than sẽ lựa chọn các khu vực có tiềm năng về trữ lượng và có điều kiện khai thác thuận lợi, ít ảnh hưởng đến môi trường, môi sinh để triển khai các dự án thử nghiệm. Trên cơ sở đó, sẽ mở rộng các nhà máy khai thác với mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực và an ninh năng lượng quốc gia. Riêng về giải pháp bảo vệ môi trường, Bộ Công Thương xác định: Phải đầu tư thỏa đáng cho vấn đề này, làm sao đến năm 2015 đạt chỉ tiêu về môi trường; mục tiêu tới năm 2020 đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường trong các vùng mỏ. Bộ Công Thương cũng đã chỉ đạo ngành Than thực hiện một số giải pháp như tăng cường công tác bảo vệ môi trường; theo dõi, quan trắc đo đạc các tiêu chuẩn về môi trường; xây dựng cơ chế thu hút vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường.
 |
|
Tuyển than tại Công ty tuyển than Cửa Ông. Ảnh: KTS
|
Quyền lợi "3 bên" sẽ được vạch định!
- Quyền lợi của địa phương có khoáng sản (cụ thể ở đây là than) và doanh nghiệp khai thác được vạch định thế nào, thưa ông?
- Với quan điểm, cần đa dạng hóa phương thức đầu tư và kinh doanh trong ngành than trên cơ sở doanh nghiệp do Nhà nước chi phối đóng vai trò chủ đạo, thực hiện kinh doanh than theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước để phục vụ mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, trong Quyết định số 60/QĐ-TTg ngày 9-1-2012 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch phát triển ngành than đã nêu rõ: Giao trách nhiệm quản lý cho các địa phương có khoáng sản chưa khai thác ngoài ranh giới. Trước đây, do chưa được phân định rõ ràng nên rất khó khăn trong việc quản lý khoáng sản. Theo tôi, điều quan trọng là làm sao để có được sự phối hợp quản lý, sử dụng tài nguyên một cách hợp lý. Trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ cũng khẳng định, cần xây dựng cơ chế hài hòa giữa địa phương, trung ương, doanh nghiệp về lợi ích kinh tế. Về vấn đề này, Bộ Công Thương sẽ phối hợp với Bộ Tài chính soạn thảo quy chế thu phí tài nguyên, phí bảo vệ môi trường giữa doanh nghiệp với các địa phương.
- Hiện, Luật Khoáng sản đã đi vào đời sống, trong Quy hoạch phát triển ngành Than Việt Nam, Luật đã được cụ thể hóa như thế nào, thưa ông?
- Thực ra, đây là vấn đề liên quan nhiều đến Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT). Theo tôi được biết, Bộ này đang ban hành hướng dẫn các văn bản dưới luật của Luật Khoáng sản. Điều mà trong quy hoạch chung chúng tôi quan tâm nhất chính là quyền đấu giá, quyền thăm dò khai thác được quy định như thế nào? Bởi nếu làm tốt khâu này sẽ tăng cường quản lý nhà nước trong hoạt động khoáng sản. Cùng với đó, Bộ TN-MT còn phải sửa đổi một số nghị định về xử phạt trong hoạt động khoáng sản.
Liên quan tới Bộ Công Thương chúng tôi là về vấn đề kinh doanh than, kinh doanh khoáng sản khác. Trên cơ sở Luật Khoáng sản năm 2010, Bộ sẽ xem xét sửa đổi một số thông tư về xuất khẩu khoáng sản; về hướng dẫn điều kiện kinh doanh than và hướng dẫn xuất khẩu than.
- Các văn bản dưới luật kể trên có ảnh hưởng đến định hướng xuất khẩu, nhập khẩu than?
- Như anh đã biết, thời gian tới, ngành Than tiếp tục đáp ứng tối đa nhu cầu tiêu thụ than trong nước về chủng loại và khối lượng, xuất khẩu một phần hợp lý theo kế hoạch. Chỉ xuất khẩu các chủng loại than trong nước chưa hoặc không có nhu cầu sử dụng, đồng thời tích cực tìm nguồn than nhập khẩu để góp phần bảo đảm an ninh năng lượng lâu dài cho đất nước. Vậy nên, khi Luật Khoáng sản ra đời giúp chúng ta có "kênh pháp lý" để phát triển và hội nhập tốt hơn mà thôi.
- Xin cảm ơn ông!
|
Dự kiến, tổng vốn đầu tư cho toàn ngành Than đến năm 2020 khoảng 317.736 tỷ đồng (bình quân 35.304 tỷ đồng/năm), trong đó: Giai đoạn đến năm 2015, nhu cầu vốn đầu tư khoảng 208.580 tỷ đồng, đầu tư mới và cải tạo mở rộng là 191.810 tỷ đồng, đầu tư duy trì sản xuất là 16.770 tỷ đồng.
Giai đoạn 2016-2020, nhu cầu vốn đầu tư khoảng 109.156 tỷ đồng. Trong đó, đầu tư mới và cải tạo mở rộng là 87.173 tỷ đồng; đầu tư duy trì sản xuất là 21.983 tỷ đồng.
(Nguồn: Bộ Công Thương)
|
Lê Xuân Đức (thực hiện)