Thị trường chứng khoán của Việt Nam mới ra đời nhưng với sức hấp dẫn đặc biệt của nó và những cơn sốt nóng, lạnh đã tác động mạnh đến nền kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tiền ngân hàng chảy vào chứng khoán, huy động vốn của các ngân hàng giảm, các ngân hàng đua nhau tăng lãi suất, các doanh nghiệp đua nhau lập ngân hàng, các ngân hàng tranh giành nhân lực, phát hành cổ phiếu…Sự tăng nhiệt của hoạt động ngân hàng là tín hiệu tốt cho nền kinh tế. Tuy nhiên, sức nóng của ngân hàng còn chứa dựng cả những điều bất ổn, có thể thêm gánh nặng cho cả nền kinh tế. Theo lộ trình hội nhập, kể từ ngày 1-4, các ngân hàng 100% vốn nước ngoài bắt đầu được hoạt động ở Việt Nam, tạo sức ép cạnh tranh không nhỏ với giới kinh doanh ngân hàng trong nước…
 |
|
Hoạt động nghiệp vụ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Hải Phòng |
Từ lợi nhuận kỷ lục…
Có thể nói năm 2006 và quý I năm nay là thời gian đại thắng lợi của các ngân hàng thương mại Việt Nam với tốc độ tăng trưởng vượt trội, lợi nhuận kỷ lục. Các khoản đóng góp vào ngân sách Nhà nước của khối ngân hàng đã dẫn đầu trong số các ngành kinh tế. Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB) lợi nhuận năm 2006 đạt 241,4 tỷ đồng, tăng 27% so với kế hoạch và có mức tăng trưởng chung trên 60%.
Tiền lãi của ngân hàng đã không phụ thuộc nhiều vào chênh lệch lãi suất vay để cho vay mà còn phụ thuộc vào nhiều loại dịch vụ sinh lời khác, đặc biệt là từ hoạt động đầu tư. Trong năm 2006 và quý I năm nay, giá cổ phiếu ngân hàng trên thị trường liên tục nóng sốt. Đặc biệt là cổ phiếu các ngân hàng như MB, VIB Bank, Techcombank, Southern Bank…
Sacombank trở thành ngân hàng đầu tiên có mặt trên sàn chứng khoán. Sau ngân hàng này, nhiều ngân hàng khác cũng lên sàn. Thông qua thị trường chứng khoán, thương hiệu và hoạt động của các ngân hàng càng nổi bật, hoạt động huy động vốn của ngân hàng càng trở nên thuận lợi hơn. Công nghệ thẻ, thanh toán và gần đây là công nghệ quản lý tài chính doanh nghiệp, tài chính cá nhân cũng đã và đang mang lại những nguồn thu lớn cho ngân hàng.
Lợi nhuận cao đã là lý do quan trọng để tạo ra “phong trào” xin thành lập ngân hàng mới. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cuối tuần qua, hồ sơ xin cấp phép gửi tới Ngân hàng Nhà nước đã lên đến 20 bộ, gấp đôi so với hai tuần trước đó.
Các ngân hàng cũng đua nhau thành lập thêm các chi nhánh, phòng giao dịch… khiến nhu cầu nhân lực của ngành này thêm "nóng" hơn. Tình trạng tranh giành nhân viên giữa các ngân hàng đã diễn ra và cổ phiếu được dùng làm "mồi" để giữ người tài.
Đến việc tiền từ ngân hàng chảy sang chứng khoán
Tại Diễn đàn Đầu tư vừa diễn ra tại Hà Nội, ý kiến phát biểu của ông Nguyễn Quang Trung, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Sacombank về sự chuyển dịch tiền từ ngân hàng sang chứng khoán đã được nhiều người chú ý. Ông Trung cho rằng: Sự phát triển sơ khai của thị trường chứng khoán trong thời gian qua đang dẫn đến xu hướng chuyển dịch dòng tiền từ gửi tiết kiệm sang đầu tư chứng khoán. Ai cũng muốn đầu tư vào chứng khoán, vì hầu hết mọi người tham gia vào sân chơi mới mẻ “cung ít cầu nhiều” này đều có lợi. Điều này đang làm ảnh hưởng trực tiếp đến kênh huy động vốn đầu tư vào từ dân cư của các ngân hàng. Bên cạnh đó, đối với các doanh nghiệp lâu nay chỉ quen với khái niệm đến ngân hàng để vay vốn hoạt động thì nay có thêm một kênh huy động vốn trung và dài hạn qua thị trường chứng khoán, từ việc huy động vốn trên thị trường OTC hoặc chính thức niêm yết trên sàn giao dịch bằng việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Vì vậy các ngân hàng phải chịu sự cạnh tranh trực tiếp từ các kênh huy động vốn của thị trường vốn này. Do đó, trước mắt và lâu dài, sự phát triển của thị trường chứng khoán có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thị trường tiền tệ, tức là ảnh hưởng trực tiếp đến ngành ngân hàng.
Trao đổi với báo chí mới đây, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Đức Thúy cũng đưa ra nhận xét: So với cùng kỳ năm 2006, số tiền gửi huy động của các tổ chức kinh tế và của dân cư đều tăng, nhưng mức tăng tiền gửi huy động của dân cư chỉ bằng một nửa năm ngoái. Điều đó chứng tỏ, những người có tiền gửi tiết kiệm đang đầu tư vào cái khác, mà phần lớn là dành cho chứng khoán. Điều này làm vốn ngân hàng huy động không đủ cho nhu cầu kinh tế thì nhất định phải có sự tranh chấp về vốn, như vậy buộc phải nâng lãi suất lên, do đó lãi suất cho vay cũng tăng theo, tác động đến tăng trưởng kinh tế. Điều đáng ngại là đã có không ít khách hàng vay vốn ngân hàng kê khai là sản xuất kinh doanh, nhưng thực tế lại mang tiền đầu tư chứng khoán, vì vậy, việc đánh giá những nhân tố vĩ mô cho việc quản lý hoạt động tài chính ngân hàng gặp khó khăn. Khi một lượng tiền lớn chảy vào chứng khoán mà chúng ta không kiểm soát được, để nó cứ nóng dần lên, đến lúc mà “nổ” thì đương nhiên tác hại đâu chỉ đổ lên chứng khoán.
Chúng tôi được biết, gần đây Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ủy ban Chứng khoán đã kịp thời có những giải pháp nhằm hạn chế tình trạng tiền ngân hang chảy sang chứng khoán bằng hàng loạt các quy định như hạn chế việc các ngân hàng cho công ty chứng khoán thành viên vay, chấm dứt nghiệp vụ Repo, thắt chặt việc quản lý cho vay thế chấp bằng chứng khoán. Tuy nhiên, một số ngân hàng vẫn tìm cách để đầu tư vào thị trường vốn đang được cho là tiếp tục tăng trưởng nóng trong năm nay.
Tăng lãi suất, “con dao hai lưỡi”
Năm 2005, lãi suất trên thị trường ngân hàng phục hồi và liên tục tăng mạnh. Sang năm 2006 và quý I năm nay, các đợt tăng lãi suất vẫn tiếp diễn và khá căng thẳng. Trước thực tế tiền ngân hàng đổ sang chứng khoán, các ngân hàng đua nhau tăng lãi suất để huy động vốn. Hiệp hội Ngân hàng, với vai trò trung gian, đã nhiều lần lên tiếng về sự phá rào thỏa thuận của một số ngân hàng, kể cả ngân hàng quốc doanh. Thậm chí Hiệp hội đã từng lên kế hoạch để các ngân hàng ngồi lại với nhau nhưng không thành công.
|
Theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế, thời hoàng kim của lợi nhuận ngân hàng khó có thể kéo sang quý II năm nay bởi sự có mặt ngày càng nhiều của các ngân hàng mới. |
Theo thông báo của Ngân hàng Quốc tế (VIB Bank), kể từ ngàyngày 2-4, sẽ tăng lãi suất huy động tiết kiệm USD tại tất cả các điểm giao dịch.
Theo biểu lãi suất mới, lãi suất tiết kiệm đồng USD tăng từ 0,05% đến 0,4%/năm theo từng kỳ hạn. Cụ thể: Kỳ hạn 2 tháng lãi suất là 4,5%/năm; kỳ hạn 3 tháng là 4,7%/năm; kỳ hạn 6 tháng là 5%/năm; kỳ hạn 9 tháng, lãi suất là 5,05%/năm; kỳ hạn 12 tháng là 5,15%/năm và kỳ hạn 18 tháng, lãi suất là 5,18%/năm. Trước đó, Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB) cũng đã có quyết định tăng lãi suất tiền gửi USD đối với cá nhân và các tổ chức kinh tế, áp dụng từ 21-3. Mức lãi suất tiền gửi đồng USD của MB tăng thêm 0,6% so với mức lãi suất trước đó. Mức lãi suất tiền gửi của thể nhân ở kỳ hạn gửi không kỳ hạn là 1%/năm (lãi suất cũ 0,40%).
Ngân hàng Đông Nam Á (SeABank) cũng vừa công bố điều chỉnh biểu lãi suất huy động tiết kiệm VND, USD và EUR trên toàn hệ thống. Các ngân hàng thương mại khác như Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank), Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB), Ngân hàng An Bình (ABBank) Ngân hàng Toàn cầu (G-Bank)…cũng đã có những quyết định tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm.
Theo phân tích của một số chuyên gia về tài chính tiền tệ, cho đến thời điểm này, lãi suất tiền gửi bằng đồng Việt Nam (VND) và bằng Đô-la (USD) của các ngân hàng Việt Nam đã sát với giới hạn sinh lời, an toàn của các ngân hàng và rộng hơn là của cả nền kinh tế.
Vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng Nhà nước vẫn giữ nguyên các mức lãi suất chủ đạo (lãi suất cơ bản 8,25 %/năm, tái cấp vốn 6,5 %/năm, chiết khấu 4,5 %/năm). Thế nhưng các ngân hàng, đặc biệt là khối cổ phần, vẫn tăng lãi huy động VND và phải tăng lãi cho vay đầu ra, gây khó khăn cho các doanh nghiệp vay vốn.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế, thời hoàng kim của lợi nhuận ngân hàng khó có thể kéo sang quý II năm nay bởi sự có mặt ngày càng nhiều của các ngân hàng mới. Thực hiện tiến trình hội nhập, kể từ ngày 1-4, ngân hàng 100% vốn nước ngoài được phép thành lập tại Việt Nam. Với lợi thế về tiềm lực tài chính, kinh nghiệm quản trị và công nghệ, các ngân hàng nước ngoài sẽ là một áp lực lớn đối với các ngân hàng trong nước. Tuy nhiên, chiều ngày 2-4, khi trao đổi với phóng viên báo Quân đội nhân dân về vấn đề này, nhiều vị lãnh đạo ngân hàng thương mại cổ phần lớn của Việt Nam vẫn rất lạc quan về sự tăng trưởng của khối ngân hàng trong tương lai. Việc ngân hàng nước ngoài vào Việt Nam sẽ có tác động tích cực tới hệ thống ngân hàng trong nước, bởi họ đem đến phương pháp tiếp cận mới, làm thị trường hoàn hảo hơn, gắn kết hơn. Mặt khác, tiềm năng của ngành Ngân hàng vẫn còn lớn. Để tránh rủi ro, các ngân hàng phải chuyên nghiệp hóa hoạt động đầu tư thông qua việc thành lập công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư...
Bài và ảnh: ĐỖ PHÚ THỌ