“Mỗi làng một sản phẩm” là chủ đề của cuộc tọa đàm do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (Jica) tổ chức sáng 15-9 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế (Hà Nội). Sự có mặt của Tiến sĩ Hi-ra-mat-su, người được coi là “cha đẻ” phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” tại đất nước Mặt trời mọc đã thu hút sự quan tâm của cử tọa. Hơn hết, đó chính là kinh nghiệm mà Việt Nam cần vận dụng trong quá trình xây dựng chương trình “Mỗi làng, một nghề” tới đây.
 |
| Bến thuyền Tràng An, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư. Ảnh: ĐÌNH HUỆ |
Nông dân có thể thỏa mãn với cuộc sống tại làng quê
Tại Nhật Bản, tiến sĩ Hi-ra-mat-su được coi như một “người hùng” về xây dựng sản phẩm, làng nghề, góp phần nâng cao giá trị cuộc sống người nông dân. 30 năm trước ông đã khởi thảo, gây dựng một phong trào có tầm cỡ… cấp làng! Đó chính là phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở tỉnh Oi-ta. Vậy mà nay phong trào này đã được áp dụng rộng khắp trên toàn Nhật Bản và đang được nhiều nước trên thế giới học tập.
Oi-ta là một tỉnh nghèo, dân số chỉ chiếm 1% toàn quốc, sản xuất chủ yếu thuần nông. Năm 1979, khi tiến sĩ Hi-ra-mat-su được bầu làm Tỉnh trưởng, thu nhập bình quân đầu người ở tỉnh Oi-ta là 11.200 USD/năm, đến nay nhờ thực hiện phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, thu nhập bình quân đã tăng lên 22.800USD/năm. Dưới sự điều hành của vị tỉnh trưởng tài ba, Oi-ta đã trở thành một trong những tỉnh đứng đầu Nhật Bản về điều kiện sống của người nông dân. Những đóng góp ấy đã giúp ông chiếm trọn niềm tin của người dân khi 6 nhiệm kỳ liên tiếp (tổng cộng là 24 năm) được bầu làm tỉnh trưởng!
Tại sao ông có sự thành công này?
Tiến sĩ Hi-ra-mat-su cho biết: Có ba nguyên tắc khi chúng tôi lựa chọn hướng phát triển cho phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”. Thứ nhất, sản phẩm của địa phương nhưng phải mang tính toàn cầu. Thứ hai, thúc đẩy tự chủ, tự lực, tự tin và sáng tạo của người dân. Thứ ba, phát triển tốt nguồn nhân lực. Mỗi cộng đồng, địa phương phấn đấu làm ra một sản phẩm và coi đó là niềm tự hào của người dân, quê hương mình.
Cầm trên tay một chai rượu nhỏ, ông minh chứng: “Để chiếm được thị phần, cần phải xây dựng được thương hiệu, mà thương hiệu thì chính là niềm tin của khách hàng. Ở tỉnh Oi-ta có loại rượu Shochu làm bằng lúa mạch. Vài chục năm trước, nó chỉ chiếm 1% thị phần cả nước. Chúng tôi đem pha nó với một loại chanh kalosu thì uống rất tốt. Tôi đã về Tô-ky-ô để tham gia làm… tiếp thị, vào tận các nhà hàng rót rượu mời khách. Nay thì loại rượu làng quê này đã rất được ưa chuộng, với thị phần chiếm tới gần 40% tại Nhật Bản. Điều quan trọng là địa phương phải tạo sản phẩm có bản sắc riêng và độc đáo. Với phương thức này, chúng tôi đã có những làng cá saba ngựa, làng nấm hương khô, làng chanh kalosu, làng tương cà chua, làng bánh cookies thủ công, làng du lịch ngủ tại nhà, .v.v.. Thời điểm tôi thôi làm tỉnh trưởng vào năm 2001, địa phương đã có tới hơn 336 làng có các sản phẩm riêng có của mình.
Đề cập đến chính sách trợ giúp nông dân, Tiến sĩ Hi-ra-mat-su cho rằng, Nhà nước không nên hỗ trợ trực tiếp tiền cho các địa phương hoặc nông hộ, vì như vậy dễ nảy sinh tính ỷ lại, trông chờ, mà nên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ xúc tiến thương mại, quảng bá bán hàng trên thành phố. Cách tốt nhất để đạt giá trị kinh tế cao là phải biết liên kết, “tựa lưng vào nhau” trong việc thống nhất giá cả, phương thức bán hàng, chế biến sản phẩm, và nên bán chế phẩm trực tiếp ra thị trường giá trị kinh tế mới cao. Tóm lại, điều quan trọng nhất là phải làm cho người nông dân thỏa mãn với cuộc sống của mình tại một làng quê thanh bình. Đó cũng chính là mục tiêu của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”.
Chiến lược “Mỗi làng, một nghề” ở Việt Nam
Ông Nguyễn Mạnh Dũng, Phó cục trưởng Cục Chế biến, thương mại nông, lâm, thủy sản và nghề muối cho biết: Học tập kinh nghiệm từ Nhật Bản và một số nước khu vực châu Á, chúng ta đang trong quá trình xây dựng chương trình “Mỗi làng, một nghề” trong phạm vi cả nước. Mục tiêu cụ thể của chương trình là mỗi làng sẽ hình thành và phát triển được ít nhất một nghề, đem lại thu nhập ổn định cho người dân, đưa mức tăng trưởng bình quân của ngành nghề nông thôn ổn định và đạt hơn 15%/năm; mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm ngành nghề nông thôn đạt từ 20 đến 22%/năm; thu hút hơn 300.000 lao động mỗi năm.
Hiện nay cả nước có hơn 2.017 làng nghề, phân bố không đều, đa số là làng nghề mới hình thành, số làng nghề truyền thống chỉ chiếm khoảng 15%. Trong khi Đồng bằng sông Hồng có 866 làng nghề (chiếm tới gần 43%), thì khu vực Nam Trung Bộ lại chỉ có 87 làng nghề (chiếm có 4,3%), còn lại thuộc các khu vực khác. Theo ông Nguyễn Mạnh Dũng, đối với các làng đã có nghề, các hoạt động ưu tiên hàng đầu trong dự án là phát triển mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng, tăng cường liên kết với các doanh nghiệp và các nhà hỗ trợ để cải tiến mẫu mã, cung cấp vốn, thông tin thị trường, đào tạo nâng cao năng lực quản lý kinh doanh của các chủ cơ sở sản xuất, tay nghề thợ thủ công, truyền nghề, trên cơ sở đó thu hút nhiều hơn số hộ, số người tham gia. Còn đối với các làng chưa có nghề, sẽ dựa trên điều kiện cụ thể và bản sắc văn hóa trong vùng, khai thác lợi thế so sánh của địa phương, phát triển các nghề dịch vụ... Ngoài ra, chương trình “Mỗi làng, một nghề” còn xây dựng chuỗi liên kết “nhiều làng một nghề”, tức là mỗi địa phương, mỗi thôn, mỗi làng, tùy theo điều kiện cụ thể của mình có thể tham gia vào chuỗi sản xuất, kinh doanh một sản phẩm (của một ngành nghề) ở những công đoạn khác nhau. Chẳng hạn, có nơi chuyên sản xuất nguyên liệu, có nơi lại sản xuất, gia công bán thành phẩm, hoặc chỉ chuyên kinh doanh các sản phẩm tới từng thị trường.
Trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân bên lề cuộc tọa đàm, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Xuân Hùng cho biết: Tôi đi tham quan, lĩnh hội kinh nghiệm ở tỉnh Oi-ta (Nhật Bản) thấy việc xây dựng “Mỗi làng một sản phẩm” cũng giống như xây dựng hợp tác xã. Đó là phải do người dân địa phương tự nguyện và quyết định bằng phát huy nguồn nội lực, tiềm năng của mình, học hỏi kinh nghiệm của địa phương khác, biết tìm người có năng lực, trình độ, say mê nghề nghiệp để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng phong trào. Từ bài học thành công của Nhật Bản, tôi nghĩ sản xuất sản phẩm không phải là vấn đề khó. Mấu chốt là nằm ở khâu tiêu thụ sản phẩm, thị trường. Vì vậy, khi xây dựng phong trào không chỉ thực hiện dự án sản xuất, mà còn thực hiện cả dự án tiêu thụ.
Trong lộ trình xây dựng nông thôn mới hiện nay, việc phát huy, giữ gìn bản sắc văn hóa vùng quê, nâng cao mức sống, thu nhập thông qua những sản phẩm cụ thể là điều mà các địa phương đang nỗ lực hướng tới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẳng định: “Độc lập sáng tạo”, “dựa vào lợi thế địa phương là chính” và “xây dựng và sử dụng tốt mối liên kết nhiều nhà” là những tiêu chí quan trọng để xây dựng và phát triển chương trình “Mỗi làng, một nghề” nói riêng, đồng thời triển khai thực hiện chương trình xây dựng mô hình nông thôn mới nói chung.
LÊ THIẾT HÙNG