Em Nguyễn Thị Thuý Nga, con ông Nguyễn Văn Quý bị câm điếc bẩm sinh do nhiễm chất độc da cam. Ảnh Hồng Anh

Với niềm tin và hy vọng vào công lí, ngày 18-6, hàng triệu nạn nhân của chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam và dư luận quốc tế dõi nhìn về Niu Y-oóc, Mỹ, nơi Tòa phúc thẩm lưu động số 2 Niu Y-oóc mở phiên tranh tụng về vụ kiện của các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam vào lúc 13 giờ địa phương, tức 1 giờ sáng 19-6 giờ Hà Nội.

Phiên tranh tụng này là bước tiếp theo của vụ các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam kiện 37 công ty hóa chất Mỹ đã sản xuất và cung cấp chất độc cho quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam. Dù đây là phiên tiền xét xử, chưa đi vào nội dung mà chỉ xem xét các vấn đề khía cạnh pháp lý của vụ kiện, nhưng lại có ý nghĩa quan trọng, gần như là quyết định đối với vụ kiện của các nguyên đơn. Mỗi bên sẽ có 40 phút để tranh luận trước tòa sau đó sẽ đi vào nghị án. Sẽ có hai trường hợp xảy ra. Thứ nhất, nếu có cơ sở pháp lý để tiến hành vụ kiện thì phiên tòa sẽ chính thức mở. Lúc đó nguyên đơn mới có thể trình bày những tác động và thiệt hại của chất da cam đối với con người cũng như việc giải quyết hậu quả. Ngược lại, nếu toà bác vụ kiện này thì các nguyên đơn sẽ phải đệ đơn lên Tòa án tối cao. Tòa có thể chưa ra phán quyết ngay mà phải chờ đợi một hoặc hai năm sau mới công bố. Nghĩa là cuộc đấu tranh của các nạn nhân Việt Nam sẽ còn tiếp tục lâu dài.

Các nạn nhân của chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam bắt đầu khởi kiện từ 30-1-2004, nhưng rất tiếc, năm 2005 thẩm phán Uên-xtênởTòa sơthẩmMỹ đã bác đơn kiện này. Phán quyết sai lầm này đã làm ngỡ ngàng và gây bất bình cho toàn bộ nạn nhân cũng như dư luận bởi nó đi ngược lại sự thật và công lý. Từ những năm 1961-1971, quân đội Mỹ đã rải xuống lãnh thổ miền Nam Việt Nam khoảng 80 triệu lít hóa chất độc da cam chứa gần 400kg đi-ô-xin - một độc chất cực nguy hiểm đối với con người và môi trường - mà nhân chứng sống là nhiều thế hệ của hàng triệu nạn nhân đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề. Lần giở lại những tài liệu trong hồ sơ, người ta có thể thấy ngay những tác động của loại chất độc có màu da cam đối với sức khỏe con người Việt Nam là hoàn toàn chính xác. Có đến 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm và chưa thể biết được nạn nhân cuối cùng là ai bởi di chứng của nó còn tác động lên các thế hệ sau.

Người ta sẽ chẳng thể quên hình ảnh hai bé Việt - Đức ở Việt Nam khi sinh ra đã bị dính liền nhau; hay, hình ảnh một đứa trẻ lên sáu không có mắt, chậm rãi dùng tay lần mò đi lại trong phòng, những thanh niên tay chân không lành lặn, một số người không có cả hai tay hoặc hai chân. Hàng trăm nghìn đứa trẻ đã chết từ trong bụng mẹ, một số khác chết khi mới chào đời... Gần hơn nữa là 4 nạn nhân tham dự phiên tranh tụng lần này, trong đó 3 người đang mang trong mình căn bệnh ung thư, người còn lại vì bệnh tật đã phải bỏ dở ước mơ nơi giảng đường đại học… Người ta chưa từng biết đến một cuộc chiến tranh nào lại để lại nhiều di chứng khủng khiếp đến thế. Và chính ngay tại nước Mỹ, nhiều cựu quân nhân từng tham chiến trong cuộc chiến tranh Việt Nam trước đây bị ảnh hưởng từ hóa chất da cam này cũng đang ngày đêm bị giày vò cả tinh thần và thể xác.

Nhưng đáng tiếc là cho đến tận bây giờ, phía Mỹ vẫn chưa chịu nhìn nhận tác hại của chất đi-ô-xin đối với sức khỏe con người Việt Nam. Sau khi rải khoảng 80 triệu lít chất da cam và các chất khai quang khác trên đất nước Việt Nam, Mỹ đã chưa làm gì để giúp khôi phục môi trường và bồi thường cho nhiều triệu nạn nhân, vẫn tiếp tục từ chối bất cứ trách nhiệm đạo lý hay pháp lý nào đối với những hậu quả to lớn mà Mỹ đã gây ra ở Việt Nam. Trong khi đó, Chính phủ Mỹ đã trợ cấp tài chính và cho các cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam được hưởng chế độ miễn phí điều trị rất nhiều loại bệnh, nhưng họ lại từ chối dành bất cứ trợ giúp nào cho hàng trăm nghìn người Việt Nam cũng bị cùng các loại bệnh như vậy. Các binh sĩ của một số nước khác từng tham chiến tại Việt Nam cũng đang được hưởng một số trợ cấp tài chính trong khi hàng triệu nạn nhân người Việt Nam lại chưa bao giờ được trợ cấp để phần nào xoa dịu những nỗi đau cho dù Chính phủ Việt Nam đã và đang tiếp tục làm hết sức mình để trợ giúp họ.

Chiến tranh đã chấm dứt hơn 30 năm nhưng nhiều triệu nạn nhân đi-ô-xin Việt Nam vẫn đang phải hằng ngày, hằng giờ chịu đựng nỗi đau cả thể xác lẫn tinh thần, cả nghèo đói và bệnh tật. Những nỗi đau đó hiển hiện hằng ngày trong cuộc sống và bất kỳ ai trong số chúng ta cũng có thể thấy hoặc cảm nhận được. Trách nhiệm này thuộc về ai nếu không phải là các công ty hóa chất đã sản xuất ra loại thuốc độc giết người kia? Vô cảm với những nỗi đau của các nạn nhân da cam chính là vô cảm với cộng đồng. Liệu người dân Mỹ với truyền thống yêu công lý có thể chấp nhận một phán quyết quay lưng lại với đạo lý, với lương tri và lẽ phải?

Các nạn nhân Việt Nam đã và đang giành được sự ủng hộ to lớn của cộng đồng quốc tế. Những cái tên quen thuộc như Xu-dân Két-li, Đa-vít- Clai, Len An-dít… và nhiều người khác nữa bền bỉ đấu tranh đòi Mỹ phải có trách nhiệm đối với những nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin mà họ gây ra cho người dân Việt Nam. Trong số đó, có người là nạn nhân trực tiếp của chất độc da cam, có người lại mang nỗi đau mất con vì loại chất độc đó, lại cũng có người vì không thể làm ngơ trước những bất hạnh khủng khiếp của người Việt Nam đã đứng lên đòi công lý cho các nạn nhân Việt Nam. Sự ủng hộ đó còn được tính bằng số lượng chữ ký ở nhiều nước trên thế giới như ở Pháp, Anh, Mỹ, Niu Di-lân, Hàn Quốc, Nhật Bản... đang tăng lên hằng ngày. Trong các lời kêu gọi công lý cho các nạn nhân Việt Nam, bạn bè quốc tế đã viết: “Chúng tôi kêu gọi Tòa phúc thẩm số 2 Mỹ hãy xét xử công bằng, buộc các công ty hóa chất Mỹ đã cung cấp chất độc da cam/đi-ô-xin cho quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam phải nhận trách nhiệm và bồi thường thỏa đáng cho các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam”. Đó là minh chứng cho thấy người ta không thể coi thường công lý và không thể vô cảm trước sự thật và nỗi đau da cam.

Vụ kiện này không nhằm khơi lại hận thù, mà là tiếng nói của lương tri và quyền con người đòi đạo lý và công bằng; vụ kiện này không chỉ vì cuộc sống của các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin ở Việt Nam, mà còn vì quyền lợi chính đáng của mọi nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin nói chung. Bốn nạn nhân có mặt tại phiên tranh tụng là những nhân chứng sống trong số hàng triệu nạn nhân Việt Nam đang ngày đêm phải vật lộn với nỗi đau của chất độc da cam/đi-ô-xin. Dư luận rộng rãi trên thế giới và toàn thể đồng bào trong nước đang sát cánh cùng với họ trong cuộc hành trình tìm công lý.

THU TRANG