QĐND - Năm 2011, tổng sản lượng khai thác thủy sản của nước ta đạt hơn 2 triệu tấn, trong đó hơn 40% sản lượng từ khai thác xa bờ; kim ngạch xuất khẩu đạt mức kỷ lục gần 6,1 tỷ USD. Tuy nhiên, khai thác đánh bắt thủy sản hiện vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập gây tổn thất không nhỏ về kinh tế. Câu chuyện tổn thất sau khai thác, đánh bắt thủy sản trở thành vấn đề “nóng” trong hội nghị bàn giải pháp giảm tổn thất thủy sản sau khai thác do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức mới đây tại tỉnh Kiên Giang.
 |
|
Thành quả chuyến đi biển của ngư dân Hòn Đốc, Hà Tiên, Kiên Giang
|
“Mất" 8000 tỷ đồng trên... tàu cá!
Theo Tổng cục Thủy sản, ước tính lượng thủy sản bị tổn thất, sụt giảm chất lượng do khâu bảo quản hiện chiếm khoảng 20% sản lượng khai thác, thậm chí lên đến 30% đối với các tàu bảo quản bằng phương pháp ướp muối. Như vậy, mỗi năm cả nước mất khoảng trên dưới 400 nghìn tấn hải sản, tương đương với khoảng 8000 tỷ đồng/năm.
Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu là do phần lớn tàu cá kích thước nhỏ, lạc hậu, phần lớn các tàu không có các điều kiện tốt để bảo quản thủy sản sau khai thác. Cả nước hiện có gần 130 nghìn tàu cá các loại, trong đó loại tàu cá lắp máy dưới 90CV chiếm tới 81,2% và lắp máy từ 90CV trở lên chỉ chiếm có 18,8%. Hiện nay, phương pháp bảo quản thủy sản của ngư dân chủ yếu bằng đá xay nên thời gian bảo quản ngắn, chỉ cho phép bảo quản tối đa 10 ngày. Trong khi đó, trung bình một chuyến đi biển của ngư dân, nhất là đối với các tàu đánh bắt xa bờ, thời gian ít nhất là từ 20 đến 25 ngày. Hơn thế, phần lớn các tàu không thiết kế hầm bảo quản sản phẩm hoặc nếu có chỉ được làm từ những vật liệu không bảo đảm cách nhiệt tốt (gỗ tấm, xốp miếng ghép, cá biệt một số tỉnh miền Trung còn sử dụng bạt bằng nhựa để ghép lại cho từng chuyến đi biển). Vì vậy, sản phẩm thủy sản khi đem về đến đất liền thường bị giảm chất lượng, số lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn chế biến xuất khẩu không cao, ảnh hưởng đến thu nhập của mỗi ngư dân.
Trao đổi với chúng tôi, ngư dân Phạm Văn Vinh, ở huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi, cho hay: "Chúng tôi biết việc bảo quản sơ sài, ảnh hưởng đến chất lượng thủy sản, làm giảm thu nhập sau mỗi chuyến ra khơi của chúng tôi. Thế nhưng, muốn bảo quản thủy sản tốt phải có tàu lớn, trang thiết bị phải được đầu tư hiện đại, đồng bộ, mà điều này thì vượt quá khả năng của ngư dân...".
Lời giải nào cho bài toán thất thoát?
Ở một số địa phương đang triển khai một số mô hình nhằm giảm thiểu thủy sản sau khai thác, đánh bắt đã thu được kết quả khả quan. Chẳng hạn, tại tỉnh Phú Yên đã xuất hiện một loại mô hình “Rẫu Nước” (mô hình tàu dịch vụ thu mua hải sản trên biển). Các tàu thu mua thủy sản đã ra tận ngư trường để "ăn hàng" từ các tàu đánh bắt. Những con tàu này được trang bị hệ thống bảo quản thủy sản tốt, thời gian bảo quản trên tàu ngắn nên giữ được chất lượng sản phẩm, giảm thiểu tổn thất, đồng thời không bị chủ nậu, vựa, thu mua ép giá. Tập đoàn “Rẫu Nước 19” của ông Phạm Kỳ (huyện Đông Hòa) là một điển hình, với 12 tàu, trung bình thu mua được từ 10 đến vài chục tấn thủy sản/ngày.
Tại tỉnh Bình Thuận có khoảng 320 tổ thực hiện mô hình hợp tác sản xuất với hơn 2.300 tàu tham gia. Điển hình tại xã Long Hải có tổ tàu câu mực (gồm 7 tàu), thay phiên nhau vận chuyển sản phẩm về bờ và cung cấp nhiên liệu, nước đá cũng như các nhu yếu phẩm khác từ bờ ra tàu. Nhờ vậy, trong những điều kiện thời tiết thuận lợi, các tàu khai thác thủy sản liên tục bám biển. Còn trong điều kiện thời tiết xấu, các thành viên trong tổ đoàn kết hỗ trợ nhau vượt qua khó khăn.
Đội tàu dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển tại Phú Quý (cũng thuộc Bình Thuận) hiện có 112 tàu dịch vụ tư nhân hoạt động thu mua, cung ứng nhiên liệu trên biển, trong đó có 106 tàu được trang bị hiện đại với hầm cấp đông, có thể đông sâu lên đến -40 độ C, trong đó có 78 tàu chuyên hoạt động xa bờ. Hình thức dịch vụ hậu cần trên biển không chỉ đem lại hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp thu mua, mà còn tạo hiệu quả cho các tàu khai thác, giảm tổn thất sau khai thác đến mức thấp nhất, kéo dài thời gian chuyến biển, giảm chi phí sản xuất cho ngư dân.
Để triển khai hiệu quả Nghị quyết 48/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản, hướng mục tiêu đến năm 2020 tổn thất sau thu hoạch trong khai thác thủy sản giảm từ hơn 20% như hiện nay xuống dưới 10%, Thứ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Vũ Văn Tám cho rằng: Giải pháp trước mắt, cần tập trung triển khai có hiệu quả mô hình “Tổ đoàn kết trên biển” gắn với tàu dịch vụ khai thác (tàu mẹ), tổ chức lại khai thác ven bờ. Đồng thời, tập trung kinh phí khuyến ngư, khuyến công để triển khai các mô hình, máy móc thiết bị bảo quản sản phẩm giảm tổn thất sau thu hoạch; hướng dẫn ngư dân quy trình công nghệ, kỹ thuật bảo quản, cách thức vận hành máy móc thiết bị; tổ chức nhân rộng mô hình liên kết sản xuất khai thác-bảo quản-chế biến và tiêu thụ có hiệu quả.
Chủ trương là thế, nhưng chắc chắn khi thực hiện sẽ không dễ, bởi liên quan đến kinh phí đầu tư mà ngư dân, chủ tàu, doanh nghiệp thì không phải lúc nào cũng dễ vay được vốn...
Bài và ảnh: Nguyễn Kiểm