QĐND - Trong suốt quá trình từ khi thành lập đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, luôn trung thành tuyệt đối và bảo vệ Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Trung thành với Đảng, bảo vệ Đảng và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng là ba nội dung có mối quan hệ biện chứng không tách rời, phản ánh mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với quân đội, trong đó Đảng lãnh đạo quân đội tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; quân đội phục tùng sự lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta là minh chứng sinh động khẳng định điều này. Do đó, việc hiến định sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là hoàn toàn khách quan, cần thiết, phù hợp với yêu cầu xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động của quân đội, nhất là trong bối cảnh các thế lực thù địch đang ráo riết chống phá cách mạng bằng “diễn biến hòa bình”. Đồng thời, điều này còn phản ánh sự tiến bộ trong tư duy hiến định của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN….

Hiện nay, có người cho rằng: Chức năng của quân đội là chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, nên quân đội chỉ trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, không có trách nhiệm, cũng như không phải trung thành với Đảng, bảo vệ Đảng và không cần đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thực chất đây là quan điểm nhằm chia rẽ mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với quân đội, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Đó là quan điểm phi thực tế, phi lịch sử…

Thực tiễn lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta đã chỉ rõ: Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, sức mạnh chiến đấu của quân đội. Ngay từ ngày đầu thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã được tổ chức theo mô hình có chi bộ Đảng lãnh đạo; bên cạnh người đội trưởng (lúc đó là đồng chí Hoàng Sâm), có một cán bộ chính trị chuyên làm công tác chính trị theo đường lối của Đảng (lúc đó là đồng chí Xích Thắng). Cùng với  hệ thống chỉ huy như quân đội nhiều nước, Quân đội nhân dân Việt Nam thiết lập hệ thống tổ chức đảng từ Quân ủy Trung ương đến cơ sở; bên cạnh người chỉ huy, có chính ủy, chính trị viên chủ trì công tác Đảng, công tác chính trị. Đây là mô hình tổ chức nhất quán từ trước đến nay.

Mục tiêu chiến đấu của Đảng và mục tiêu chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam là thống nhất. Đó là độc lập dân tộc và CNXH, vì hạnh phúc của nhân dân. Sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân cũng chính là để đáp ứng yêu cầu giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ yêu nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; ngọn cờ yêu nước ấy khác với các phong trào yêu nước đương thời, là hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Trong quá trình xây dựng, phát triển, mọi hoạt động công tác tư tưởng trong quân đội cũng đều nhằm truyền bá nền tảng tư tưởng của Đảng vào quân đội. Đó là việc quán triệt bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân của quân đội cho mọi quân nhân, làm cho mọi quân nhân quán triệt sâu sắc đường lối chính trị, quân sự của Đảng, hiểu rõ mục tiêu chiến đấu của quân đội là vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH, vì hạnh phúc của nhân dân. Mọi hoạt động công tác tư tưởng trong quân đội đều nhằm bảo đảm cho hệ tư tưởng Mác - Lê-nin giữ vị trí thống trị trong tư tưởng của quân đội.

Lịch sử cách mạng cũng cho thấy, một khi không có sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang sẽ bị biến chất, mất định hướng chính trị và mục tiêu chiến đấu; không còn là lực lượng vũ trang của nhân dân, không còn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; do đó, không thể làm tròn được chức năng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Có thể thấy rõ điều này, khi chúng ta nhớ lại những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến cuối năm 1945, đầu 1946, với sự kiện 4 sư đoàn Vệ binh Cộng hòa ở Nam Bộ đã nhanh chóng phân hóa, tan rã, có nhiều hành động phản lại nhân dân, do không được xây dựng theo nguyên tắc Đảng lãnh đạo lực lượng vũ trang. Xứ ủy Nam Bộ đã phê phán và chỉ đạo ủy ban hành chính Nam Bộ khắc phục sai lầm này vào thời gian đó. Một sự kiện khác, là giai đoạn từ năm 1983 đến 1985, việc áp dụng máy móc kinh nghiệm của nước ngoài về thiết lập Hội đồng quân sự, bỏ hệ thống tổ chức đảng từ cấp trên cơ sở, đã làm sức mạnh tổng hợp của quân đội bị ảnh hưởng xấu nghiêm trọng. Nguyên nhân do sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội bị suy giảm. Vì thế, sau 2 năm thực hiện Nghị quyết 07-NQ/TW, Đảng ta đã phải quyết định khôi phục lại hệ thống tổ chức đảng từ Quân ủy Trung ương đến cơ sở bằng việc ra Nghị quyết 27-NQ/TW để thay thế. Từ năm 2005 đến nay, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 51-NQ/TW về việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam... Điều đó góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu của toàn quân, trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới…

Từ những phân tích trên, có thể kết luận rằng: Trong tình hình hiện nay, không thể xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, mà ngược lại, càng phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Cần hiến định nguyên tắc “Lực lượng vũ trang nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam” ngay từ câu đầu của Điều 70, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Theo đó, câu đầy đủ sẽ là: “Lực lượng vũ trang nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam; phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân; có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”.

Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Ngọc Hồi (*)

(*)Tổng biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân