“Việc xuất khẩu than hiện nay không ăn nhằm gì với lượng nhập khẩu dự tính trong tương lai, vì thế xuất khẩu than chỉ là biện pháp tạm thời. Về lâu dài sẽ phải hạn chế xuất khẩu và tiến tới là dừng xuất khẩu than để đảm bảo an ninh năng lượng”- Vụ trưởng Vụ Năng lượng dầu khí (Bộ Công thương) Tạ Văn Hường cho biết.
- Thưa ông, quanh câu chuyện Việt Nam là cường quốc xuất khẩu than mà vẫn phải nhập khẩu than phục vụ sản xuất, ông lý giải thế nào về điều này?
- Theo dự đoán của các nhà phân tích kinh tế, với tốc độ phát triển mạnh mẽ như hiện nay của nền kinh tế thì dù là một quốc gia đang có trữ lượng than vào bậc nhất trên thế giới chúng ta vẫn có thể sẽ phải nhập khẩu một lượng than lớn do thực tế nhu cầu tiêu thụ của xã hội tăng theo sự phát triển của nền kinh tế trong khi đó tiềm lực tài nguyên của chúng ta có hạn.
 |
|
Nguồn than khai thác chủ yếu là từ mỏ lộ thiên (ảnh inernet) |
Trước kia theo tính toán của chúng tôi, tới năm 2015 chúng ta sẽ phải nhập khẩu một lượng than lớn cho sản xuất trong nước nhưng theo cập nhật thông tin và tính toán gần đây nhất của các chuyên gia thì đến năm 2012 chúng ta sẽ bắt đầu phải nhập khẩu than. Cụ thể, lượng than nhập dự kiến năm 2012 là 7,9 triệu tấn, năm 2015 là 34 triệu tấn, năm 2020 là 114 triệu tấn và đến năm 2025 con số này vào khoảng 228 triệu tấn.
Con số nhập khẩu than mới chỉ là dự kiến, nó sẽ còn phải phụ thuộc vào một số yếu tố khác như, tốc độ phát triển của đất nước, việc có hay không phát hiện ra những mỏ than mới…
- Như vậy nghĩa là chúng ta cần một cơ chế quản lý hiệu quả, thưa ông?
- Đúng vậy, việc điều tiết nguồn tài nguyên này hợp lý là rất quan trọng. Theo ước tính sơ bộ, năm 2007 chúng ta xuất khẩu trên 42 triệu tấn than, trong đó có đến 10 triệu tấn được xuất theo đường lậu.
Rõ ràng đứng ở góc độ quản lý nhà nước nhìn về dài hạn thì đây là điểm hết sức bất hợp lý. Tương lai chúng ta phải nhập than với khối lượng lớn trong khi trước mắt lại cho phép các tàu chở than đi…Tuy vậy, phân tích sâu hơn, để đảm bảo tính hiệu quả nhất của ngành than thì việc nhập thì ta cứ nhập, xuất cứ xuất. Chúng ta xuất cái gì không dùng hoặc chưa dùng tới, có giá trị lớn để nhập vào những sản phẩm phù hợp với tiêu thụ trong nước.
Việc nhập than cho phát điện cần một trữ lượng rất lớn, song loại than dùng cho phát điện không cần dùng loại có chất lượng tốt, vì thế chúng ta có thể bán ra thị trường các loại than tốt với giá cao để nhập về gấp đôi, thậm chí gấp 5 lần lượng than xấu để phục vụ ngành sản xuất này.
Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh, việc xuất khẩu than hiện nay không ăn nhằm gì với lượng nhập khẩu dự tính trong tương lai, vì thế xuất khẩu than chỉ là biện pháp tạm thời để giải quyết giải quyết một số những bất hợp lý trong cơ cấu tiêu thụ của ngành than hiện nay. Về lâu dài mình sẽ phải hạn chế xuất khẩu và tiến tới là dừng xuất khẩu than.
- Hiện tại hiệu quả khai thác chế biến than tại Việt Nam dường như chưa đạt được hiệu quả cao, vẫn chỉ khai thác phần than lộ thiên dẫn tới tình trạng lãng phí tài nguyên, thưa ông?
- Theo đánh giá của các nhà khoa học thì chất lượng than của mình tốt về mặt nhiệt, song tồi về thành phần do độ tro lớn, thành phần lưu huỳnh cũng lớn, quan trọng nhất là than của mình là loại than cứng, khó cháy, nên không phải thị trường nào cũng mong muốn tiêu thụ loại này. Hiện mỗi năm Tập đoàn Than khoáng sản khai thác được trên 50 triệu tấn than, trong đó khoảng 15 - 20 triệu tấn cung cấp cho các khách hàng trong nước, còn lại để xuất khẩu, chủ yếu là sang Trung Quốc.
|
Năm 2007, Việt Nam xuất khẩu hơn 32,5 triệu tấn than, thu về khoảng 1,018 tỷ USD, tăng thêm 11% so với năm 2006. Theo tính toán của Bộ Công thương từ nay đến 2025 nhu cầu điện của Việt Nam là 4.000 MW thì sẽ cần nhập khẩu tới 6 triệu tấn than, tương đương trên 800 triệu USD/năm ( tính theo thời điểm giá hiện nay là 135 USD/tấn, đã bao gồm phí vận chuyển). |
Công nghệ khai thác than của mình thì không hẳn là lạc hậu, nhưng dựa chủ yếu trên khai thác theo công nghệ truyền thống. Chúng ta vẫn liên tục cải thiện công nghệ để tăng hiệu suất với mỏ dễ khai thác, nhưng theo đánh giá của các chuyên gia, sản lượng khai thác đã đạt tới mức giới hạn, do các mỏ than lộ thiên đang cạn dần. Do vậy, thời gian tới cần có sự đầu tư công nghệ khoa học tiên tiến, đặc biệt là ứng dụng công nghệ khí hoá than để tiến tới khai thác những mỏ có địa hình phức tạp, ở độ sâu lớn.
- Nhưng thưa ông, việc nhập khẩu than sẽ kéo theo giá tăng cao và hàng loạt tác động về giá đối với các ngành khác trong xã hội?
- Chính phủ Việt Nam đang có lộ trình điều hành ngành năng lượng nói chung theo cơ chế thị trường, dần dần đưa ngành năng lượng phát triển theo cơ chế cạnh tranh. Vì thế xu thế tương lai của thị trường sẽ không có sự chênh lệch về giá giữa than trong nước và than nhập khẩu.
Hiện tại, do một số yếu tố ổn định thị trường, Chính phủ vẫn phải đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế bằng cách kiểm soát (không quyết định) một số giá cả ngành năng lượng, khống chế theo hướng tích cực vào giá ngành than cho các ngành tiêu thụ chiến lược như ngành điện, giấy, xi măng, hoá chất. Còn các ngành khác Chính phủ cho phép ngành than và doanh nghiệp tự thoả thuận về giá, chuyển dần sang cơ chế giá thị trường để đảm bảo lộ trình xây dựng thị trường giá cạnh tranh hoàn chỉnh vào năm 2010.
- Xin cảm ơn ông!
Theo Minh Yến (VTC)