Mới đây, Kiểm toán Nhà nước đã công bố kết quả kiểm toán tại 224/318 doanh nghiệp thành viên thuộc 16 tập đoàn, tổng công ty Nhà nước. Đại đa số các doanh nghiệp được kiểm toán đều kinh doanh có lãi, chỉ có 7,2% số doanh nghiệp được kiểm toán là thua lỗ. Nhưng đáng lo ngại là phần lớn các doanh nghiệp được kiểm toán đều có hoạt động đầu tư ra ngoài nhiệm vụ chính ở các mức độ và tỷ lệ khác nhau, thậm chí đầu tư rất lớn. Nói như một chuyên gia kinh tế thì “doanh nghiệp đứng núi này với sang núi nọ”. Nếu doanh nghiệp có “cánh tay dài” thì không sao, nếu “cánh tay ngắn và không cẩn thận có thể rơi xuống vực”.
Kiểm toán Nhà nước đã “điểm mặt”: Tổng công ty Lắp máy Việt Nam đầu tư ra ngoài 775,39 tỉ đồng, bằng 128,21% vốn chủ sở hữu; Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn đầu tư ra ngoài 1.311 tỉ đồng, bằng 17,86% vốn chủ sở hữu; Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam đầu tư ra ngoài 1.786,4 tỉ đồng… Việc đầu tư ra ngoài ngành chủ yếu sang các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bất động sản, viễn thông, điện… Qua kiểm toán cho thấy việc đầu tư ra ngoài của nhiều đơn vị chưa mang lại hiệu quả, tiềm ẩn nhiều rủi ro, do tham gia thị trường muộn và chưa có kinh nghiệm quản lý, đặc biệt là đối với các khoản đầu tư chứng khoán khi thị trường tài chính suy giảm.
Chính vì những lý do trên mà nhiều người vẫn còn băn khoăn về cơ chế quản lý vốn Nhà nước trong các tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước hiện nay và kỳ vọng vào dự thảo Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn Quy chế quản lý tài chính của công ty Nhà nước và quản lý vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác. Thông tư này được ví như là một "đường ray" đưa hoạt động đầu tư ra ngoài của các công ty Nhà nước vào khuôn khổ.
Tuy nhiên, theo ý kiến của một số doanh nghiệp, dự thảo Thông tư này khó có thể áp dụng vào thực tiễn. Ví dụ như quy định của dự thảo Thông tư: Công ty con không được đầu tư góp vốn vào công ty mẹ. Thế nhưng do công ty mẹ là công ty Nhà nước do Nhà nước đầu tư 100% vốn nên sẽ không có chuyện công ty con đầu tư góp vốn vào công ty mẹ. Trong trường hợp công ty mẹ chuyển sang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần thì công ty mẹ sẽ không phải là đối tượng điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp Nhà nước và Thông tư này, khi đó việc cấm công ty con đầu tư trở lại công ty mẹ là không thể thực hiện được vì đây là hai pháp nhân hoàn toàn độc lập nhau, việc đầu tư trở lại công ty mẹ thuộc quyền quyết định của công ty con và được pháp luật cho phép.
Hy vọng, những vấn đề nêu trên sẽ được Ban soạn thảo Thông tư tiếp thu, chỉnh lý để có thể sớm ban hành, tạo cơ sở pháp lý để doanh nghiệp Nhà nước tập trung vào nhiệm vụ chính, tránh tình trạng “đứng núi này với sang núi nọ”.
PHÚ THỌ