QĐND - Tại Điều 57 thuộc Chương 3 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (sau đây gọi tắt là dự thảo) nêu “Đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên khác, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa, vùng trời và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, hiện nay, việc quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân vẫn mang đậm tính chất tinh thần vì thực tế chủ sở hữu là Nhà nước. Nên quy định rõ ràng trong Hiến pháp về đại diện chủ sở hữu Nhà nước, tránh tình trạng xác định sở hữu toàn dân nhưng không biết ai là chủ sở hữu. Vì vậy, tôi kiến nghị viết lại Điều 57 như sau: “Đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên khác, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa, vùng trời và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu Nhà nước do Nhà nước quản lý theo quy định của pháp luật”.
Ở khoản 3, Điều 58 của dự thảo nêu: “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân sử dụng có bồi thường theo quy định của pháp luật, trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế-xã hội”. Đây là một nội dung đang rất nóng hiện nay-vấn đề thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặt bằng bởi không ít trường hợp thu hồi, đền bù không thỏa đáng cho người sử dụng đất đã dẫn đến các vụ kiện kéo dài, khó giải quyết. Vì vậy, theo tôi, nên sửa lại cụ thể như sau: “Nhà nước chỉ có quyền thu hồi đất do tổ chức, cá nhân sử dụng có bồi thường theo quy định của pháp luật, trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia hoặc vì lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế-xã hội. Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường cá nhân, tổ chức theo giá thị trường. Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định, tối thiểu phải đảm bảo ổn định đời sống người dân về lâu dài và không thấp hơn trước khi bị thu hồi”.
 |
| Ảnh minh họa/ Internet |
Cũng về điều luật này, tôi kiến nghị cần bổ sung, làm rõ mối quan hệ giữa chủ đầu tư và người dân. Vì nhà đầu tư hay người dân đều là những chủ thể bình đẳng trước luật pháp, lợi ích chính đáng của họ đều phải được tôn trọng và bảo vệ như nhau. Nhà đầu tư có thể tạo lập những khu phức hợp nhà ở, trung tâm thương mại, du lịch hoành tráng,... nhưng họ phải tạo lập trong khuôn khổ sự vận động bình thường của cuộc sống dân sự, chứ không phải dựa vào sức mạnh để khiến người khác phải ra khỏi không gian sống được cho là của mình. Tình huống Nhà nước thu hồi đất của dân để cho chủ đầu tư sử dụng, thì Nhà nước phải bảo đảm sự công bằng giữa hai bên, không được dùng biện pháp cưỡng chế thu hồi đất trong trường hợp này. Chỉ khi nào đa số (có thể quy định là 95%) người dân đồng ý giao đất một cách tự nguyện thì mới bắt đầu thu hồi, cưỡng chế đất.
Ngoài ra, để đảm bảo quyền và lợi ích của người có đất bị thu hồi, tôi đề nghị bổ sung vào Hiến pháp một số nguyên tắc về thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư. Đồng thời, bổ sung vào Hiến pháp nguyên tắc Nhà nước bảo đảm các quyền của người sử dụng đất, để người dân yên tâm khai thác, sử dụng đất một cách có hiệu quả cũng như quy định trách nhiệm đăng ký đất đai của tất cả những người sử dụng đất vào Hiến pháp. Bởi trên thực tế, các quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư thường xuyên thay đổi dẫn tới tình trạng người dân có đất so bì, khiếu nại ở dự án thu hồi đất qua nhiều năm. Việc chuẩn bị phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa được các cấp chính quyền quan tâm đúng mức, nhất là phương án giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất.
Tiến sĩ LÊ VĂN BẢNH
( Viện trưởng Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long)