 |
|
PGS.TS Lê Bắc Huỳnh, Phó Cục trưởng Cục quản lý Tài nguyên nước |
Việt Nam có nhiều lưu vực sông quốc tế, cung cấp nguồn nước rất quan trọng cho phát triển, nhưng đang có những vấn đề khá nghiêm trọng. Hợp tác với các nước thượng nguồn các lưu vực sông để quản lý tổng hợp lưu vực sông, “chia sẻ nguồn nước - chia sẻ cơ hội” để bảo đảm an ninh về nước, phát triển bền vững là yêu cầu cấp bách. Đó cũng là nội dung của cuộc đối thoại với PGS.TS Lê Bắc Huỳnh, Phó Cục trưởng Cục quản lý Tài nguyên nước - Bộ Tài nguyên và Môi trường nhân Ngày nước thế giới 22-3.
- Xin ông cho biết chủ đề của ngày nước thế giới năm nay?
- Ngày nước thế giới năm 2009 với chủ đề trọng tâm là “Nguồn nước xuyên biên giới - Chia sẻ nguồn nước, chia sẻ cơ hội”, Ngày nước thế giới năm nay chú trọng vào việc làm thế nào để các tài nguyên nước xuyên biên giới có thể đóng vai trò là một sức mạnh thống nhất.
- Vậy thực trạng sử dụng tài nguyên nước ở nước ta hiện nay như thế nào?
- Ở nước ta, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong những năm qua đang bắt đầu trở thành áp lực đối với tài nguyên nước. Nhu cầu về nước ngày càng tăng dẫn đến việc khai thác sử dụng tài nguyên nước ngày càng nhiều. Suy thoái, cạn kiệt nguồn nước mặt, nước ngầm; thiếu nước, khan hiếm nước ngày càng trở nên phổ biến hơn. Cạnh tranh về nước giữa những người sử dụng nước, giữa những ngành sử dụng nước, giữa thượng lưu và hạ lưu các lưu vực sông đang dần tăng lên. Cạnh tranh giữa sử dụng nước cho thủy điện và các nhu cầu tiêu thụ nước khác, đặc biệt cho sản xuất nông nghiệp ở hạ du một số lưu vực sông lớn như lưu vực sông Hồng, lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn... đã xảy ra trong những năm gần đây, nhất là trong mùa khô. Mặc dù có lượng mưa trung bình trong năm cao, nhưng nước ta có mùa khô kéo dài, dân số đông, lượng nước chủ yếu tập trung trong mùa mưa, có đến 2/3 lượng nước được tập trung ở vùng đồng bằng sông Mê Kông và phụ thuộc vào nguồn nước quốc tế; bờ biển dài, nguồn nước bị ảnh hưởng mạnh bởi xâm nhập mặn; dung tích trữ của các hồ chứa còn thấp; chất lượng nước giảm dần do những nguồn chất thải từ đô thị và các ngành công nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và từ những hoạt động khác. Sức khỏe môi trường nước đang kém dần đã ảnh hưởng lớn đến những cộng đồng, đặc biệt là những cộng đồng nghèo sống phụ thuộc nhiều vào môi trường tự nhiên... Những điều này nói lên rằng, Việt Nam không phải là quốc gia giàu có về tài nguyên nước, đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu nước, cạnh tranh gay gắt về nước, và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững sẽ trở nên khó khăn hơn nếu chúng ta không có những cơ chế, chính sách để chia sẻ nguồn nước một cách hợp lý và có những thay đổi lớn trong quản lý và sử dụng tài nguyên nước.
- Việc khai thác, sử dụng nước ở các nước thượng nguồn sông đã có tác động đến Việt Nam thế nào?
- Hơn 70% diện tích lưu vực sông của Việt Nam thuộc nước ngoài; Những năm trước đây, đã nảy sinh những mâu thuẫn phức tạp trong vấn đề sử dụng nước tại các khu vực này.
Trong 4-5 năm trở lại đây, thượng nguồn các sông Đà, sông Thao, sông Lô phía sát biên giới Việt - Trung, Trung Quốc đã xây dựng nhiều hồ chứa thủy điện: 7 hồ chứa trên thượng nguồn sông Đà; 8 hồ chứa trên thượng nguồn sông Lô, sông Gâm và một hồ chứa ở thượng nguồn sông Thao. Việc xây và vận hành các nhà máy thủy điện này đã có những ảnh hưởng bất lợi tới Việt Nam.
- Vậy thế giới đang phải đối mặt với thực trạng này thế nào, thưa ông?
- Cuộc cạnh tranh về nước đã xảy ra khắp đó đây trên thế giới, với các cấp độ và hình thức khác nhau. Đã từng có các cuộc chiến tranh, xung đột xảy ra giữa các nước chỉ vì tranh chấp nguồn nước và các mối bất hòa trong phân chia quyền lợi, chia sẻ trách nhiệm khi cùng sử dụng chung một nguồn nước (dòng sông xuyên biên giới). Trong nội tại một quốc gia, sự tranh chấp, cạnh tranh nguồn nước thường xảy ra giữa các nhóm đối tượng sử dụng nước cho cùng một mục đích hoặc các mục đích khác nhau, giữa vùng thượng lưu và hạ lưu của lưu vực sông, giữa các khu vực hành chính, thậm chí giữa các cá nhân hoặc cộng đồng dân cư có chung nguồn nước sử dụng. Nhiều nước trên thế giới hiện đang phải đối mặt với vấn đề này và đang tìm kiếm những giải pháp đòi hỏi những thay đổi lớn trong quản lý và sử dụng nguồn nước, mục tiêu là để đạt tới đích quản lý tài nguyên nước theo cách bền vững - vừa đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, vừa bảo đảm an ninh, công bằng xã hội và bảo vệ nguồn nước. Nhưng làm thế nào để đạt được mục tiêu này đã được các nước thừa nhận là vô cùng khó khăn và phức tạp.
- Để bảo đảm an ninh nước cho Việt Nam, ông có đưa ra giải pháp gì trong hợp tác quản lý tài nguyên nước các lưu vực sông quốc tế?
- Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 của Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 14-4-2006 cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước. Theo đó, Việt Nam thực hiện đa dạng hóa hình thức hợp tác quốc tế, tăng cường hội nhập khu vực và quốc tế về tài nguyên nước thông qua các chương trình, dự án đa phương và song phương trên tinh thần tôn trọng và thực hiện nghiêm túc các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia; Trong thời gian tới, để có thể khai thác tài nguyên nước bền vững, Việt Nam cần chủ động đề xuất việc hợp tác tài nguyên nước trên lưu vực sông Hồng với Trung Quốc và hợp tác khai thác các con sông khác có chung nguồn nước như với Lào, Cam-pu-chia, tiến tới xây dựng các hiệp định, quy chế quản lý, chia sẻ và bảo vệ tài nguyên nước đối với các sông liên quốc gia.
- Kinh nghiệm của thế giới về vấn đề “Chia sẻ nguồn nước - chia sẻ cơ hội” hiện nay ra sao thưa ông?
- Hiện nay các nước phát triển đều áp dụng phương thức quản lý tổng hợp tài nguyên nước và quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông. Các phương thức quản lý này sẽ tạo ra các cơ chế, chính sách để điều phối, chia sẻ cơ hội tiếp cận nguồn nước, bảo đảm các quyền tối thiểu của con người và cộng đồng sinh sống trên lưu vực sông, nhất là ở hạ du các lưu vực sông có cơ hội tiếp cận, sử dụng nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất; bảo đảm nguồn nước cho môi trường và hệ sinh thái thủy sinh. Phương thức quản lý này cũng đồng thời tạo ra cơ chế để phát huy cao nhất hiệu quả trong phát triển, khai thác sử dụng tài nguyên nước; tạo sự công bằng, bình đẳng trong phân phối tài nguyên nước và các dịch vụ về nước đối với các ngành kinh tế, các nhóm xã hội khác nhau, làm giảm mâu thuẫn, cạnh tranh về nước, đẩy mạnh phát triển xã hội bền vững (thông qua các chính sách kinh tế, cơ chế chia sẻ lợi ích trong khai thác sử dụng tài nguyên nước).
- Xin cảm ơn ông!
HỒNG MINH (thực hiện)