Cao Sơn, một xã vùng núi cao của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình có hơn 840 hộ dân với hơn 3.700 khẩu của 4 dân tộc anh em: Dao, Mường, Tày, Kinh chung sống. Cao Sơn là xã đặc biệt khó khăn, nhất là từ khi đón thêm gần 500 hộ dân các dân tộc vùng chuyển dân lòng hồ sông Đà về tái định cư.
 |
|
Trụ sở xã Cao Sơn |
Từ năm 2000 trở về trước, cuộc sống người dân nơi đây gặp nhiều thiếu thốn, thu nhập bình quân chỉ có 1,5 triệu đồng/người/năm. Bình quân lương thực chưa nổi 250kg/người/năm. Nhiều hộ dân lâm cảnh thiếu đói từ 2 đến 3 tháng, phải ăn ngô, ăn sắn thay cơm. Trẻ em phải học trong các lớp ghép, nhà tranh, thiếu bàn ghế, nên tình trạng thất học, bỏ học khá lớn. Điện sinh hoạt không có, nước ăn, nước phục vụ sản xuất về mùa khô hạn thiếu trầm trọng.
Nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, từ năm 2001 đến nay, xã đã được Chương trình 135; dự án 747 và 472 (dự án ổn định dân cư, phát triển kinh tế-xã hội vùng chuyển dân sông Đà); dự án 661 trồng mới 5 triệu ha rừng; dự án xóa đói, giảm ngèo… đầu tư nhiều công trình hạ tầng như đường giao thông, thủy lợi, nước sạch, trường học, cụm trung tâm xã với tổng số vốn gần 10 tỷ đồng. Hiệu quả thiết thực của các công trình hạ tầng đã làm bộ mặt nông thôn Cao Sơn chẳng kém gì các xã miền xuôi. Đường ô tô không chỉ vào trung tâm xã mà còn vươn tới trung tâm cả 9 xóm, bản. 100% hộ dân được dùng điện lưới quốc gia. Cả 9 xóm, bản đều có chi trường mầm non và tiểu học, thu hút trên 90% số cháu trong độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo. Trạm y tế xã được đầu tư trang thiết bị hiện đại, có phòng sản riêng biệt. Ngoài trường tiểu học và trung học cơ sở, xã còn được xây dựng một trung tâm giáo dục cộng đồng. Đây là nơi học tập của bà con nông dân về chuyển giao kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, khuyến nông, khuyến lâm. Đặc biệt trung tâm cụm xã được đầu tư từ nguồn vốn Chương trình 135 với trụ sở UBND xã, bưu điện xã, chợ đầu mối, trạm y tế, trường học đã trở thành động lực phát triển kinh tế-xã hội tiểu vùng. Xung quanh khu vực trung tâm đã và đang hình thành các cửa hàng, cửa hiệu buôn bán sầm uất.
Thông qua chương trình khuyến nông, chuyển giao kỹ thuật thâm canh ngô cao sản, Cao Sơn đã trở thành vùng ngô cao sản lớn nhất huyện với diện tích lên tới gần 600 ha, năng suất đạt từ 75 đến 80tạ/ha. Đã xuất hiện nhiều gia đình mỗi năm thu từ 40 đến 50 tấn ngô như gia đình ông Xa Ngọc Thuận, xóm Nà Chiếu. Gia đình ông đã đầu tư mua máy tẽ ngô để phục vụ bà con và nay đã có thêm vài gia đình mua máy. Nhờ cây ngô cao sản, bình quân lương thực đã đạt 450kg/người/năm. Dự án 472 với việc đưa cây luồng vào trồng đại trà đã mang lại cơ hội làm giàu cho nhiều gia đình. Toàn xã đã trồng được 520ha luồng và hiện đã được khai thác luồng cây, măng làm tăng đáng kể thu nhập của các hộ dân tham gia dự án. Chương trình 135 cũng đã đầu tư giống, vốn, kỹ thuật triển khai cho xã 50ha chè Shan Tuyết, một loại chè đặc sản của vùng núi cao Đà Bắc, đang được thị trường ưa chuộng.
Sản xuất phát triển, thu nhập của người dân đã tăng lên bình quân 3,7 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm đáng kể. Kết thúc giai đoạn I, Cao Sơn đã được Chính phủ công nhận hoàn thành Chương trình 135. Đã thoát đói nghèo nhưng con đường vươn lên làm giàu của Cao Sơn vẫn còn lắm chông gai. Theo ông Xa Thế Cầu, Chủ tịch UBND thì, tuy đã hết đói nhưng theo tiêu chí mới thì tỷ lệ hộ nghèo của xã ông vẫn còn tới 50%. Sản xuất nông lâm nghiệp chưa đảm bảo tính bền vững, sản xuất hàng hóa đạt hiệu quả kinh tế thấp. Ông Cầu đưa ra ví dụ là bà con trồng ngô toàn dùng phân hóa học đang làm cho đất đai bị bạc màu và bị rửa trôi. Theo ông, nếu không chuyển dịch cơ cấu, đưa các loại cây trồng khác ví như đậu tương, vừa có giá trị kinh tế, vừa tăng độ mùn cho đất thì vài năm nữa năng suất ngô cũng giảm dần. Ngay cả cây luồng cũng vậy nên phải tính đến việc trồng xen với các loại cây lấy gỗ như keo tai tượng, lát, lim… tăng độ mùn cho đất. Còn ông Triệu Phúc Đạt, Bí thư Đảng ủy xã thì cho rằng, trong đầu tư hạ tầng, do nguồn vốn có hạn nên các công trình đầu tư chưa đồng bộ như: đường giao thông mới đầu tư nền đường, các công trình trường học mới đầu tư nhà lớp học mà chưa đầu tư các công trình phụ trợ… và việc thiếu kinh phí duy tu, bảo dưỡng hàng năm sẽ làm cho công trình nhanh chóng xuống cấp.
Bài và ảnh: ĐĂNG KHOA