Hạ viện Mỹ vừa thông qua “Dự luật nhân quyền Việt Nam 2007” với những đánh giá hết sức sai lệch về vấn đề nhân quyền, tự do tôn giáo, tín ngưỡng, ngôn luận ở Việt Nam.
Quyết định này không phải là điều bất ngờ với dư luận. Từ năm 2003 đến nay, dưới sức ép của một nhóm nhỏ những nhân vật thiếu thiện chí với Việt Nam do Hạ nghị sĩ C. Xmít đứng đầu, năm nào cũng vậy, Ủy ban Đối ngoại Hạ viện và sau đó là Hạ viện Mỹ đều đưa ra bàn thảo cái gọi là “Dự luật nhân quyền” với những lời lẽ cáo buộc hết sức phi lý nhằm vào Việt Nam. Mặc dù lọt qua Hạ viện Mỹ nhờ những mánh khóe vận động nhưng đến khi trình ra Thượng viện, dự luật trên lần nào cũng bị bác bỏ bởi nội dung sai trái, bịa đặt.
Dù thất bại nhưng các nhân vật thiếu thiện chí trên vẫn không chịu từ bỏ mục tiêu của mình khi cho tái hiện “Dự luật nhân quyền Việt Nam”. Không khó khăn gì để có thể nhận thấy nội dung của nó vẫn là những đánh giá chủ quan, phiến diện và sai lệch cùng lối tư duy áp đặt mà chúng ta đã từng gặp trong các báo cáo trước. Không cần quan tâm đến những phát triển toàn diện, tích cực ở Việt Nam, các tác giả của Dự luật vẫn giữ nguyên giọng điệu cũ “nhân quyền Việt Nam có vấn đề”.
Qua cái lăng kính chủ quan như vậy, “bức tranh” nhân quyền Việt Nam luôn bị nhuốm một màu tối là điều dễ hiểu. Và thế là ông nghị C. Xmít thỏa sức đưa ra những lời cáo buộc, nào là “Trong mấy tháng vừa qua, tình hình nhân quyền tại Việt Nam đã xuống cấp và tệ hại rất nhiều”, nào là “Một đợt đàn áp thô bạo và kỳ quái mới đã được Hà Nội tung ra”. Phụ họa với ông C. Xmít, một vài nghị sĩ khác khẳng định “Dự luật là sự phản ứng đối với việc Việt Nam gần đây trừng trị các công dân nói thẳng ý kiến về các vấn đề chính trị, tôn giáo và nhân quyền”.
Đây rõ ràng là những cáo buộc phi lý, những điều bịa đặt cố ý với dụng ý xấu nhằm vào Việt Nam. Không nói đâu xa, những điều mà ông C. Xmít cáo buộc trái ngược ngay cả với báo cáo hằng năm về tình hình tự do tôn giáo mà Bộ Ngoại giao Mỹ công bố tuần trước. Báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ ghi nhận thực tế và những phát triển tích cực về tôn giáo ở Việt Nam bằng nhận xét “Tình hình tôn trọng tự do và hoạt động tôn giáo ở Việt Nam vẫn đang có các bước cải thiện quan trọng”. Tân Đại sứ M. Mi-chê-lắc trong buổi gặp gỡ ra mắt báo chí Việt Nam cũng khẳng định “Mặc dù trong quan hệ hai nước vẫn còn những điểm chưa hoàn toàn nhất trí với nhau như vấn đề nhân quyền, nhưng phía Mỹ ghi nhận những cải thiện đáng kể trong vòng hai đến ba năm qua ở Việt Nam trong việc đối xử với các nhóm tôn giáo khác nhau”.
Chưa hết, hãy xem một vài gương mặt mà ông C. Xmít mô tả là “Những người tốt nhất, sáng láng nhất và dũng cảm nhất Việt Nam”, những người mà ông đòi đưa vào Dự luật nhân quyền để được hậu thuẫn và bảo vệ vì “đấu tranh cho dân chủ”, như Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy...Nếu ai quan tâm theo dõi đều biết rõ những người này đã bị Tòa án của Việt Nam xét xử công khai vì tội tuyên truyền, lôi kéo, kích động người khác chống đối Nhà nước Việt Nam. Họ là công dân phạm tội và bị xử lý bằng pháp luật, có bản án của tòa án, đâu phải bị bắt, bị đàn áp do bất đồng chính kiến như lời cáo buộc của ông C. Xmít.
Chúng ta không thể cho rằng mình đã hoàn hảo mọi việc trong vấn đề nhân quyền. Nhưng không thể phủ nhận là với những nỗ lực không mệt mỏi, Việt Nam đã làm được rất nhiều việc để bảo đảm quyền tự do cho mỗi người dân. Hãy nhìn vào Báo cáo về tình hình phát triển con người năm 2006 của Chương trình phát triển LHQ (UNDP). Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đã liên tục tăng trong gần hai thập kỷ qua kể từ năm 1990 cho thấy sự phát triển kinh tế nhanh chóng ở Việt Nam đã chuyển hóa vào chất lượng sống của đa số người dân Việt Nam, chứ không phải chỉ đổ vào túi những người “có chức, có quyền” như lời của những kẻ chống đối. Các tiêu chí như tuổi thọ trung bình đã tăng từ 68,6 trong báo cáo năm 2003 lên 69 tuổi năm 2004, 70,5 tuổi năm 2005 và 70,8 năm 2006; thu nhập bình quân tính theo đầu người tăng từ 2300 USD năm 2004 lên 2490 USD năm 2005 và 2006 là 2745 USD (đây là mức thu nhập bình quân đầu người tính theo sức mua).
Điều đáng nói là tuy thu nhập bình quân tính theo đầu người của Việt Nam chưa bằng một nửa so với con số 6303 USD của An-giê-ri nhưng chỉ số HDI của Việt Nam chỉ thấp hơn An-giê-ri có 7 bậc. Thu nhập bình quân tính theo đầu người của Việt Nam cũng thấp hơn nhiều nước như Nam Phi, Ai Cập, Ấn Độ…nhưng vị trí của Việt Nam trong bảng xếp hạng theo chỉ số HDI lại cao hơn. Đây là bằng chứng rõ ràng khẳng định sự quan tâm của Việt Nam đối với con người trong quá trình phát triển. Thành công của Việt Nam ấn tượng đến mức tờ tạp chí nổi tiếng Economist xuất bản tại Luân Đôn đã ca ngợi “Mặc dù Việt Nam vẫn còn là một trong những nước nghèo ở châu Á, nhưng sự phát triển của Việt Nam mang tính “nhân bản” cao bởi số người thoát khỏi đói nghèo cao gấp đôi mức trung bình trong khu vực”.
Đó là bằng chứng thuyết phục bác bỏ những lời cáo buộc phi lý nhằm vào Việt Nam. Những gì nêu trong Dự thảo nhân quyền chỉ phản ánh quan điểm của một nhóm thiểu số trên chính trường Mỹ vẫn bám theo tư duy cũ, cách nhìn nhận thiên lệch, thiếu thiện cảm với Việt Nam, chứ không phản ánh tâm lý chung của đông đảo chính giới cũng như người dân Mỹ. Thực tế cho thấy nhân quyền là nguyện vọng tự nhiên của mỗi con người, của các dân tộc. Nhân quyền, tự do tôn giáo, tín ngưỡng không phải là chủ đề cấm kỵ ở Việt Nam. Những cuộc trao đổi thẳng thắn xung quanh chủ đề này cũng không phải là chuyện đặc biệt trong các mối quan hệ Việt - Mỹ hiện nay. Nhưng nhân quyền không thể bị lợi dụng để làm công cụ can thiệp vào công việc của một quốc gia.
Chúng ta hy vọng các thượng nghị sĩ Mỹ với cách nhìn khách quan và tầm nhìn hướng về tương lai sẽ bác bỏ dự luật sai trái trên, không để những việc làm cố ý của một nhóm nhỏ thiếu thiện chí có thể ảnh hưởng đến quan hệ Việt - Mỹ, mối quan hệ đang hướng tới đối tác ổn định và bền vững vì lợi ích của người dân hai nước./.
MẠNH TƯỜNG