Dự kiến, trung tuần tháng 10-2006, sẽ xuất hiện một mô hình doanh nghiệp cổ phần về bảo vệ môi trường đầu tiên trong cả nước, áp dụng tại các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai. Đây là mô hình, có thể coi như một đầu tàu, tạo đòn bẩy nâng cao hiệu quả của vấn đề xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường - một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta.

Từ thực trạng: Càng chống, càng ô nhiễm...

Những năm vừa qua, chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường đã được thực hiện và phát huy tác dụng khá tốt ở nhiều cộng đồng dân cư. Còn tại các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), nơi môi trường phải chịu sự tra tấn khủng khiếp của rác thải công nghiệp, đòi hỏi qui trình xử lý phải áp dụng kỹ thuật công nghệ cao, thì việc huy động sức dân chưa mang lại hiệu quả.

Công ty Gannon - KCN Amata - Đồng Nai

Cả nước hiện có 135 KCN, KCX, mỗi năm thải ra môi trường gần 3 triệu tấn chất thải công nghiệp, trong đó khoảng 50% lượng chất thải này tập trung tại các tỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Mặc dù các cơ quan chức năng đã nỗ lực với nhiều biện pháp nhằm giảm sự ô nhiễm, nhưng lượng chất thải được xử lý chẳng thấm vào đâu so với lượng chất thải mới phát sinh, nên càng chống lại càng... ô nhiễm. Khó khăn nhất trong vấn đề này là việc xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại, bởi nó đòi hỏi phải áp dụng những qui trình kỹ thuật cùng hệ thống máy móc, phương tiện hiện đại, trong lúc đó nguồn lực của Nhà nước dành cho vấn đề này chưa đủ đáp ứng nhu cầu.

Chúng tôi đã về Đồng Nai, địa phương dẫn đầu cả nước về tốc độ phát triển các KCN để tìm hiểu vấn đề này. Kết quả quan trắc môi trường của Bộ TN&MT và sở TN&MT Đồng Nai cho thấy, nạn rác thải công nghiệp đang là mối đe dọa lớn nhất đối với sự an nguy của môi trường tại địa phương này. Tuyến sông Thị Vải của tỉnh đang là “điểm nóng” của cả nước về ô nhiễm trầm trọng, bởi nó phải “gánh” dọc hai bên bờ hàng trăm doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, hằng ngày cứ “vô tư” xả vào lòng sông hàng trăm tấn chất thải. Bộ TN&MT đã lập đề tài khoa học nghiên cứu, tìm giải pháp cứu cho môi trường ở lưu vực sông Thị Vải thoát “chết”.

Một thảm họa về môi trường từ hệ lụy của rác thải công nghiệp là điều đã được cảnh báo từ lâu, nhưng chưa có giải pháp ngăn chặn hữu hiệu. Xảy ra tình trạng đó là bởi, trong một thời gian dài, người ta mải mê chạy theo làn sóng tìm kiếm đầu tư, tốc độ xây dựng các KCN phát triển rất nhanh, nhưng vấn đề bảo vệ môi trường thì ít được quan tâm. Doanh nghiệp nào vào đầu tư cũng tập trung xây dựng các công trình phục vụ sản xuất, kinh doanh mà không quan tâm đến hệ thống xử lý chất thải, coi đó là trách nhiệm của Nhà nước. Thống kê của sở TN&MT Đồng Nai cho thấy, toàn tỉnh hiện có 17 KCN, nhưng mới chỉ có 8 KCN triển khai hệ thống xử lý chất thải, tuy nhiên, chỉ có 3 KCN trong số đó (gồm KCN A-ma-ta, KCN Biên Hòa 2 và KCN Long Bình) có hệ thống xử lý chất thải hoạt động hiệu quả. Các KCN còn lại đều tuồn chất thải chưa qua xử lý ra môi trường hoặc là tống vào kho dự trữ (đối với chất thải có độ nguy hại cao).

Về chất thải nguy hại, trên phạm vi cả nước, theo kết quả nghiên cứu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trung bình mỗi năm các KCN cả nước thải ra khoảng 130.000 tấn chất thải nguy hại, trong đó lượng chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh từ vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm tới 75% tổng lượng chất thải công nghiệp nguy hại của cả nước. Nước ta còn rất thiếu các hệ thống xử lý chất thải công nghiệp nguy hại đạt tiêu chuẩn. Bên cạnh đó, trình độ của đội ngũ chuyên môn kỹ thuật về xử lý chất thải nguy hại vẫn còn rất hạn chế. Ở một số nơi, do đội ngũ cán bộ chuyên môn thiếu kinh nghiệm nên quá trình vận hành lò đốt tiêu hủy không đúng quy trình kỹ thuật, làm phát tán các loại khí độc hại ra môi trường. Cũng có nơi việc thực hiện tiêu hủy chất thải nguy hại lại làm theo phương pháp xử lý chất thải thông thường, đem chôn lấp, làm cho nguy cơ ô nhiễm thêm trầm trọng.

... Đến mô hình doanh nghiệp cổ phần về bảo vệ môi trường

Mặc dù chúng ta đã có Luật về bảo vệ môi trường nhưng trên thực tế để luật đi vào cuộc sống phải phát huy sức mạnh của cả cộng đồng. Việc quản lý, thu gom, xử lý chất thải công nghiệp, vì tính đặc thù của nó nên chủ trương xã hội hóa cũng phải thể hiện và đáp ứng được tính đặc thù đó. Rõ ràng trước sự phát triển nhanh chóng của hệ thống KCN, KCX hiện nay, nếu không huy động nguồn lực xã hội mà chỉ dựa vào các cơ quan Nhà nước thì có nỗ lực đến mấy cũng không thể đáp ứng được yêu cầu xử lý chất thải công nghiệp. Xét theo năng lực hiện có và mức độ phát triển các KCN, nhu cầu về quản lý chất thải công nghiệp ở nước ta rất lớn. Việc hạn chế lượng chất thải công nghiệp phát sinh từ nguồn đã khó, quản lý và xử lý chất thải đã phát sinh lại càng khó hơn. Người ta có thể huy động hàng nghìn dân nạo vét một tuyến kênh, thu dọn rác thải ở một khu phố, nhưng không thể áp dụng cách này trong môi trường rác thải công nghiệp. Việc xã hội hóa ở đây cũng phải thể hiện tính công nghiệp.

Công ty Shin Kwang - Khu công nghiệp Biên Hoà 2 - Đồng Nai

Mô hình doanh nghiệp cổ phần chuyên về công tác bảo vệ môi trường sắp đi vào hoạt động ở tỉnh Đồng Nai là bước đột phá trong xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường tại các KCN, KCX. Đồng Nai là địa phương đầu tiên trong cả nước áp dụng thể nghiệm mô hình này bằng việc thành lập Công ty Cổ phần Môi trường, trực thuộc Công ty Phát triển hạ tầng KCN Sonadzi. Ông Phan Văn Hết, Phó giám đốc sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai cho biết: Số vốn ban đầu để thành lập công ty này vào khoảng 200 tỷ đồng. Bên cạnh chức năng bảo đảm các thiết chế, cung cấp và thực hiện các dịch vụ về bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển các KCN, doanh nghiệp này còn tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật về môi trường, thực hiện chuyển giao công nghệ về xử lý chất thải công nghiệp cho các đối tác. Hệ thống công nghệ được doanh nghiệp này nhập về từ các nước có nền kỹ thuật tiên tiến như Đức, Thụy Điển, Nhật...

Theo ông Vũ Văn Đức, Vụ Chính sách Chiến lược (Bộ Công nghiệp): Kết quả khảo sát, kiểm tra của vụ này tại các KCN trên địa bàn Đồng Nai cho thấy, công nghệ xử lý chất thải còn rất thiếu và yếu, hệ thống dịch vụ đi kèm chưa có. Ông Đức đánh giá cao mô hình doanh nghiệp cổ phần về bảo vệ môi trường và cho rằng đây là một bước tiến mới trong quá trình đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường trong hệ thống KCN, KCX.

Còn quá sớm để nói về hiệu quả của mô hình này, song dưới góc độ xã hội hóa thì việc huy động nguồn lực từ các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội ngoài quốc doanh để góp phần giải quyết nạn ô nhiễm môi trường, nhất là tại các KCN, KCX, rất cần những đầu tàu để nhân rộng. Dưới góc độ quản lý Nhà nước, các địa phương cần khuyến khích tính năng động, tự chủ, sáng tạo của các nguồn lực trong xã hội, đồng thời có định hướng rõ ràng về sự phát triển, chức năng hoạt động theo pháp luật, để vừa bảo đảm được quyền lợi, nghĩa vụ của các doanh nghiệp, vừa giảm bớt gánh nặng cho ngành tài nguyên môi trường vốn đã và đang quá tải hiện nay...

THANH KIM TÙNG