Tổ chức phóng viên không biên giới (RFS) lại vừa đưa ra những đánh giá hết sức sai lệch về tự do báo chí ở Việt Nam, thể hiện sự thiên kiến và thói quen quy chụp vốn có của mình.

Tự cho mình được quyền phán xét người khác, RFS khẳng định thực trạng tự do báo chí ở Việt Nam đang có xu hướng thụt lùi, chính quyền “đàn áp những nhà báo có đầu óc cấp tiến”, ngăn cản những người tích cực đấu tranh chống tham nhũng… Rồi trên cơ sở những cáo buộc bịa đặt đó, RFS xếp Việt Nam vào nhóm nước cuối bảng xếp hạng về tự do báo chí.

Không phản bác tuyên bố bảo vệ tự do báo chí mà RFS theo đuổi, không nghi ngờ về việc RFS khá tốn công thu thập thông tin cho bảng đánh giá 173 nước trên thế giới về tự do báo chí, thế nhưng không thể chấp nhận những việc làm của RFS bởi nó hoàn toàn không phản ánh mục tiêu “cao cả” mà tổ chức này lớn tiếng quảng bá. Chỉ xin nêu ra đây vài ví dụ.

Những ai đã từng đến Việt Nam sống và làm việc trong những năm gần đây đều có thể nhận thấy sự bùng nổ của các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam. Ở đây tất nhiên có yếu tố tự nhiên của quy luật cung - cầu nhưng không thể bỏ qua một trong những động lực chính tạo nên sự bùng nổ này là những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc thúc đẩy sự phát triển của hệ thống báo chí Việt Nam nhằm bảo đảm trên thực tế quyền được thông tin của người dân. Nhờ đó mà hiện nay ở Việt Nam đã có tất cả các loại hình báo chí, với hơn 550 cơ quan báo chí và hơn 700 ấn phẩm các loại. Báo chí đã thực sự trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu, là người bạn thân thiết hằng ngày của các tầng lớp nhân dân.

Làm sao có thể nói tự do báo chí ở Việt Nam thụt lùi trước một sự bùng nổ mạnh mẽ như vậy? Không chỉ phát triển về số lượng, báo chí ở Việt Nam ngày càng có vai trò lớn hơn trong xã hội, trở thành một nhân tố quan trọng trong quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội. Chính nhờ sự phản biện có hiệu quả của báo chí, Nhà nước đã tiếp thu ý kiến của các tầng lớp nhân dân, các nhà khoa học để hoàn thiện các chính sách, văn bản pháp luật dự định ban hành hoặc kịp thời sửa đổi, bổ sung những vấn đề không sát hợp, đình chỉ những chính sách không đem lại hiệu quả, rõ nhất là về đầu tư phát triển, về sử dụng tài nguyên đất đai và sử dụng ngân sách nhà nước...

Không thể phủ nhận một thực tế là rất nhiều vụ tiêu cực, tham nhũng, lợi dụng chức quyền để vi phạm pháp luật hoặc ức hiếp người dân đã được báo chí phát hiện và lên án. Nhiều quan chức đã phải ra tòa và bị trừng phạt nhờ sự phát hiện và đấu tranh của báo chí. Thử hỏi nếu báo chí Việt Nam bị kìm hãm, bị kiểm duyệt, các nhà báo tích cực chống tham nhũng “bị đàn áp” như lời cáo buộc của RFS, thì làm sao những người sai phạm, trong đó có cả những quan chức nhà nước cấp cao, lại có thể được đưa ra ánh sáng và bị pháp luật xử lý nghiêm như vậy?

Đáng ra, thực tế đó phải được đề cập trong các đánh giá của RFS, thế nhưng họ không hề nhắc tới. Đơn giản là bởi tổ chức này luôn có cách nhìn tiêu cực về Việt Nam. Còn nhớ khi các cơ quan quản lý của Việt Nam cho ban hành một số quy định về quản lý Internet với mục đích vừa khai thác tác dụng, tiện ích hơn hẳn của ứng dụng công nghệ tin học này trong đời sống văn hóa-xã hội, vừa hạn chế những mặt tiêu cực đi liền với nó như thông tin xấu độc, mại dâm, tình dục…, đặc biệt là đối với lớp trẻ, thế mà RSF lại làm rùm beng như thể ở Việt Nam đang diễn ra cuộc “tổng thanh trừng Internet”.

Thậm chí trong một số trường hợp, RFS còn bịa đặt, cố tình gắn những lời bình luận trái ngược về bản chất để bôi xấu Việt Nam. Chẳng hạn khi một số người vi phạm pháp luật Việt Nam như Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân bị giam giữ, thì RFS “phong” ngay cho họ là những “nhà báo” để có cớ yêu cầu bảo vệ, dù RFS biết rõ rằng những người này chẳng liên quan gì đến báo chí. Hay gần đây nhất là vụ xét xử liên quan đến vụ PMU 18, trong khi hai bị cáo nguyên là phóng viên vi phạm quy định về những điều không được thông tin trên báo chí, phạm vào tội “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” bị đưa ra xét xử, thì RFS lại quy chụp, cho rằng đó là “hành động đàn áp của chính quyền nhằm vào những nhà báo đấu tranh chống tham nhũng”.

Tự do luôn là hoài bão nên dù đầy đủ hơn, nó vẫn đòi hỏi phải liên tục được hoàn thiện. Tự do báo chí cũng nằm trong sự phát triển đó và Việt Nam luôn phấn đấu để thực hiện tự do báo chí và tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp lý về vấn đề này. Việt Nam đang tích cực chuẩn bị sửa đổi Luật báo chí, gần đây Chính phủ đã thông qua một loạt văn bản như Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, Quy chế phối hợp cung cấp thông tin cho báo chí giữa một số bộ, ngành… chính là nhằm giúp các nhà báo có điều kiện hoạt động ngày càng tự do hơn, để có thêm nhiều đóng góp cho xã hội, cho đất nước.

Đó là những việc làm thực sự vì tự do báo chí, bảo vệ và tạo điều kiện cho những người làm báo hành nghề. Còn việc làm của RFS và những lời cáo buộc vô căn cứ của họ nhằm vào Việt Nam chỉ làm người ta thấy rõ thêm bộ mặt thật của tổ chức đã nhiễm “căn bệnh” mãn tính quy chụp.

TƯỜNG LINH