Với địa hình rừng núi, lắm sông, nhiều suối và có độ dốc lớn, Gia Lai là một trong những tỉnh trong khu vực Tây Nguyên có tiềm năng thủy điện vào loại lớn nhất nước ta. Ở đây hội tụ những điều kiện đặc trưng để thu hút các nhà đầu tư xây dựng các công trình thủy điện phục vụ phát triển kinh tế, xã hội. Vì vậy đã có gần 220 công trình thủy lợi vừa và nhỏ (trong đó 75 công trình hồ chứa và 131 đập dâng). Công ty cổ phần đầu tư điện Tây Nguyên được thành lập vào tháng 11 năm 2004 với số vốn điều lệ 4,8 tỷ đồng, chủ yếu huy động từ cổ phiếu nội bộ của 170 cổ đông sáng lập (trong đó, cán bộ, công nhân viên Công ty điện Gia Lai chiếm 51% và Nhà máy thủy điện Ia Đrăng cũ: 49%). Là một trong 35 doanh nghiệp đã cổ phần hoá tại Gia Lai, sau gần 3 năm hoạt động theo hình thức mới, Công ty cổ phần đầu tư điện Tây Nguyên (Nhà máy thủy điện Ia Đrăng 1 cũ) vẫn là một công ty cổ phần nội bộ, khi nguồn thu nhập qua lãi suất từ giá trị cổ phiếu chủ yếu đem lại lợi nhuận cho các cán bộ, công nhân viên trong ngành.

Mặc dù chỉ sở hữu 4,8 tỷ đồng từ nguồn vốn điều lệ nhưng sau gần 3 năm hoạt động, Công ty đã huy động 715 tỷ đồng vốn đầu tư vào các dự án hợp tác, liên doanh với các doanh nghiệp khác xây dựng 10 nhà máy thủy điện nhỏ, đẩy mạnh tiến độ thi công 2 nhà máy thủy điện mới Đăk PiHiao 2 và Ia Puch 3, nâng tổng sản lượng điện cung cấp cho toàn tỉnh tăng lên qua từng năm.

Trên công trường xây dựng thủy điện Sơn La (ảnh minh họa internet)

Hiện nay, khá nhiều doanh nghiệp và người dân có vốn ở Gia Lai đang rất quan tâm đến việc đầu tư vào thủy điện. Tuy nhiên, chỉ rất ít người mua được cổ phiếu nhờ người thân hoặc dựa vào những mối quan hệ cá nhân. Giải thích về vấn đề này, ông Huỳnh Đoan – Giám đốc Công ty-cho rằng: “Chúng tôi là một doanh nghiệp bước đầu làm quen với hình thức cổ phần hóa nên Hội đồng quản trị chỉ phát hành cổ phiếu trong nội bộ công ty...”.

Cũng theo ông Huỳnh Đoan: Từ khi mới bắt đầu hoạt động theo hình thức cổ phần hóa, Công ty cổ phần đầu tư điện Tây Nguyên đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động vốn thì các ngân hàng đều không đáp ứng được nhu cầu này. Có thể niềm tin của họ đối với các công ty cổ phần mới thành lập còn quá thấp. Doanh nghiệp chúng tôi là doanh nghiệp chuyên xây dựng các công trình thủy điện nhỏ phục vụ tại các huyện Chư Prông, Mang Yang… Vì vậy, việc huy động một nguồn vốn lớn hơn từ các nhà đầu tư cổ phiếu ngoài xã hội chưa cần thiết nên Hội đồng quản trị vẫn duy trì cổ phiếu nội bộ, chưa đề xuất lên sàn giao dịch. Chúng tôi đang huy động nguồn vốn của cán bộ, công nhân viên trong công ty nhằm triển khai các chiến lược hoạch định kinh tế thuận lợi hơn. Do đó, việc bán cổ phiếu ra ngoài chỉ là hành động nhất thời của một vài cổ đông trong công ty – mặc dù tổng giá trị cổ phiếu, vốn điều lệ đã đạt hơn 60,5 tỷ – nghĩa làgiá trị mỗi cổ phiếu đã tăng gấp hơn 12,6 lần!

Được biết, ngoài sản xuất, kinh doanh trên lĩnh vực xây dựng, sử dụng các công trình thủy điện tại địa bàn hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum, Công ty còn góp vốn 75/300 tỷ đồng trong dự án liên doanh với Công ty cao su Chư Sê trồng mới 5.000ha cao su tại Gia Lai vào năm 2010. Điều này có nghĩa là công ty đang thừa vốn. Như vậy phải đến bao giờ cổ phiếu của Công ty cổ phần đầu tư điện Tây Nguyên mới thoát khỏi rào cản “nội bộ” nhằm huy động được một nguồn vốn rộng hơn từ các thành phần kinh tế khác trong xã hội? Đó là vấn đề mà các nhà đầu tư cổ phiếu quan tâm.

LÊ QUANG HỒI