QĐND - Trong thập niên thứ nhất của thế kỷ XXI, Việt Nam đã thực hiện tương đối thành công chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010. Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức; tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm; tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên. Đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển; thế và lực được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân. Với đà thắng lợi đó, bước vào thập niên thứ hai, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, Việt Nam xác định quyết tâm chính trị: Phấn đấu đến năm 2020, về cơ bản, xây dựng đất nước trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Tuy nhiên, con đường đi lên thật không bằng phẳng, dễ dàng, nhất là với một nền kinh tế đang chuyển đổi, có xuất phát điểm thấp, tiềm lực còn hạn hẹp như Việt Nam, trong bối cảnh nền kinh tế khu vực và thế giới đang biến động từng ngày với nhiều diễn biến phức tạp, nhiều rủi ro khó lường đoán.

Việt Nam hiện đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức gay gắt. Cuộc khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế toàn cầu 2008-2009 và những động thái phức tạp hậu khủng hoảng tác động mạnh đến kinh tế Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam hội nhập trực tiếp, ngày càng sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế. Việt Nam cũng đã sớm dự báo và tích cực ứng phó với những tác động này, nhưng không hình dung và tính đến hết quy mô, mức độ và hậu quả, do vậy, những biện pháp đối phó chưa xứng tầm, có phần còn đơn giản và chủ quan. Sự tác động nhiều mặt của suy thoái kinh tế, tài chính toàn cầu đã trở thành tác nhân làm bộc lộ rõ nét những non yếu vốn có của nền kinh tế Việt Nam, những khuyết tật của cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng kinh tế không còn phù hợp, những hạn chế và khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, điều hành kinh tế. Việt Nam đã và đang đứng trước một thực tế khắc nghiệt: Kinh tế vĩ mô còn nhiều bất ổn; lạm phát tăng; hệ thống ngân hàng, doanh nghiệp - đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước - bộc lộ nhiều tật bệnh; thị trường, giá cả biến động thất thường; một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đạt thấp. Hệ lụy rõ nhất là tình trạng nợ xấu trầm trọng; thị trường bất động sản đóng băng; hàng chục nghìn doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, giải thể hoặc phá sản; việc làm và thu nhập của người lao động giảm sút… Thực trạng này gây ảnh hưởng không thuận đến niềm tin của giới đầu tư nước ngoài và tâm trạng xã hội.

Năm 2011 và 2012, Việt Nam đã kiên trì tiến hành các giải pháp quyết liệt để từng bước khắc phục, vượt qua những khó khăn, thách thức hiểm nghèo. Dù chật vật, vất vả và có lúc vấp váp, nhưng tình hình đang tốt dần lên, bầu không khí kinh tế bớt dần ảm đạm, gam màu sáng đã hừng lên trên toàn cảnh bức tranh kinh tế đất nước. Lạm phát bước đầu được kiềm chế, từ hai con số xuống một con số; kinh tế vĩ mô có biểu hiện ổn định hơn; sản xuất công nghiệp có dấu hiệu phục hồi; sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển ổn định; du lịch, dịch vụ tăng trưởng khá; an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm… Những kết quả, dù còn khiêm tốn và chưa thật vững chắc này giúp cho nền kinh tế trụ được trước sóng gió, tạo niềm tin, kinh nghiệm và cơ sở để Việt Nam tiếp tục vượt lên trong những năm tới.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của kinh tế Việt Nam trong năm 2013 là giải quyết tình trạng nợ xấu. Trong ảnh: Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB) đã nỗ lực giải quyết nợ xấu, hiện  chỉ còn dưới 2% dư nợ tín dụng. Ảnh: Huyền Trâm

Năm 2013 đến 2015 là khoảng thời gian Việt Nam cùng một lúc phải giải quyết hai yêu cầu vừa cấp bách, vừa cơ bản: Một mặt, tập trung khắc phục những hệ lụy đang đe dọa nền kinh tế đất nước, từng bước đưa kinh tế trở lại quỹ đạo phát triển lành mạnh; đồng thời tích cực hoàn tất những nền tảng thiết yếu, bảo đảm đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Hai yêu cầu này được tiến hành đồng thời, hỗ trợ, tương tác lẫn nhau, có ưu tiên trọng tâm, trọng điểm theo từng thời gian thích hợp với mục tiêu tiếp tục ổn định, phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế đất nước.

Dự báo kinh tế trong nước và kinh tế thế giới những năm tới sẽ còn tiếp tục khó khăn; nguy cơ tái lạm phát còn cao, Việt Nam vẫn đặt kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô làm nhiệm vụ hàng đầu.

Rút kinh nghiệm sâu sắc từ những vấp váp trong điều hành chính sách tiền tệ, giá cả, Nhà nước chú trọng thực hiện linh hoạt, thận trọng chính sách tài khóa kết hợp hài hòa với chính sách tiền tệ ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, bình ổn giá cả, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, từng bước phục hồi tăng trưởng.

Công việc cấp bách trước mắt là tập trung xử lý nợ xấu và bong bóng thị trường bất động sản; bảo đảm an ninh tiền tệ, an ninh tài chính quốc gia và các cân đối lớn: Lao động - việc làm, thu - chi ngân sách nhà nước, vốn đầu tư, xuất - nhập khẩu, cán cân thanh toán quốc tế… Hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn tín dụng với lãi suất hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi giúp doanh nghiệp phục hồi sản xuất, giảm hàng tồn kho, mở rộng thị trường, giải quyết việc làm, thu nhập cho người lao động. Bảo đảm cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu; tăng cường quản lý thị trường, giá cả; thực hiện nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đối với điện, than, xăng dầu, dịch vụ công theo lộ trình phù hợp và yêu cầu kiểm soát lạm phát.

Đồng thời với việc giải quyết những bức xúc kinh tế trước mắt, Việt Nam hướng nỗ lực thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng hợp lý, gắn với tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng.

Ba năm tới, Việt Nam sẽ đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế một cách toàn diện, cả cơ cấu thành phần, cơ cấu ngành - nội ngành, cơ cấu vùng kinh tế, trong đó trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư, thị trường tài chính, doanh nghiệp nhà nước, trọng điểm là đầu tư công, hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, tập đoàn kinh tế và các tổng công ty nhà nước.

Đổi mới tư duy chiến lược về đầu tư phát triển; đổi mới phương thức, phương pháp, quy trình đầu tư các nguồn lực từ ngân sách nhà nước, bảo đảm tính khoa học, công khai, minh bạch, hiệu quả, khắc phục tình trạng chồng chéo, lãng phí, thất thoát.

Cơ cấu lại các tổ chức tài chính, ngân hàng, tín dụng theo hướng giảm số lượng, nâng cao chất lượng hoạt động; sắp xếp, xử lý các tổ chức tài chính, tín dụng yếu kém; xây dựng các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính có quy mô và uy tín; khắc phục tình trạng "sở hữu chéo", bảo đảm các ngân hàng hoạt động lành mạnh, có tính thanh khoản và an toàn hệ thống.

Đẩy mạnh tái cơ cấu và cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, cơ bản hoàn thành sắp xếp, thu gọn các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước. Đổi mới mô hình tổ chức, chiến lược sản xuất kinh doanh, phương thức quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu; nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tính công khai, minh bạch và khả năng cạnh tranh bình đẳng trên thị trường nhằm phát huy vai trò, vị thế của doanh nghiệp nhà nước.

Quá trình tái cơ cấu nền kinh tế được tiến hành đồng thời và có quan hệ hữu cơ với quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển từ tăng trưởng theo bề rộng sang tăng trưởng hợp lý cả về bề rộng và chiều sâu. Tiết kiệm năng lượng, tăng hàm lượng trí tuệ, hàm lượng công nghệ cao, phát triển kinh tế tri thức, coi trọng chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và sức cạnh tranh quốc gia. Ưu tiên phát triển các sản phẩm, các công đoạn, ngành hàng, lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh, có giá trị gia tăng cao, có khả năng tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Việt Nam, trong ba năm tới, sẽ hướng nỗ lực khai thông ba khâu đột phá chiến lược: Từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là cải cách hành chính, tạo lập môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng; phát triển, phát huy nguồn nhân lực, nòng cốt là nhân lực chất lượng cao trên cơ sở tích cực đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo kết hợp với phát triển tiềm năng và đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ; tiếp tục đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình trọng điểm hiện đại, ưu tiên hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn.

Những định hướng chiến lược phát triển kinh tế được triển khai tập trung với vị thế là nhiệm vụ trung tâm, nhưng không đơn tuyến, biệt lập mà được thực hiện đồng bộ với các lĩnh vực chính trị; văn hóa; xã hội; tài nguyên, môi trường; quốc phòng-an ninh; đối ngoại… trong chiến lược tổng thể xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Việt Nam ngày càng nhận thức sâu sắc hơn, phấn đấu giải quyết có kết quả hơn các mối quan hệ lớn trong quá trình phát triển. Nổi bật là:

- Quan hệ giữa đổi mới - ổn định phát triển: Lấy xây dựng môi trường hòa bình, ổn định làm nền tảng; lấy đổi mới toàn diện, không ngừng làm động lực; lấy phát triển nhanh, bền vững làm mục tiêu phấn đấu.

- Quan hệ giữa đổi mới kinh tế - đổi mới chính trị: Tạo lập sự hài hòa, đồng bộ và quan hệ tương tác giữa đổi mới tư duy kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất với đổi mới tư duy chính trị, hoàn thiện tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy dân chủ.

- Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế - phát triển văn hóa - thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội - bảo vệ tài nguyên, môi trường - ứng phó biến đổi khí hậu.

- Quan hệ giữa đề cao tinh thần độc lập, tự chủ, phát huy sức mạnh nội sinh của dân tộc với tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác, hữu nghị với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài vì mục tiêu hòa bình và phát triển.

- Quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng-an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định chính trị - xã hội, trật tự, an toàn xã hội.

Thời đoạn 2013 - 2015 tuy là khoảng thời gian ngắn nhưng là một chặng đường có vị trí và ý nghĩa đặc biệt đối với Việt Nam. Sự thành bại của chặng đường này sẽ ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến sự phát triển toàn cục của đất nước trong cả thập niên thứ hai của thế kỷ và cả những giai đoạn tiếp sau.

GS, TS PHÙNG HỮU PHÚ

Phó chủ tịch thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương

Bài 1: Bức tranh kinh tế năm 2012 và triển vọng năm 2013