Nhận thức rõ tình thế và thời cơ chiến lược cách mạng đã xuất hiện, tháng 1-1968, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (khóa III) thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 11-1967, chỉ rõ: Cuộc kháng chiến của quân và dân ta có thể tạo ra một chuyển biến lớn, nhảy vọt bằng cách đánh mới, táo bạo vào tất cả các thành phố, thị xã, trong đó trọng điểm là các thành phố Sài Gòn, Huế và Đà Nẵng.

Thực hiện nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 14, cùng với toàn dân và các lực lượng vũ trang, bộ đội chủ lực trực thuộc Bộ, Miền và các quân khu khẩn trương chuẩn bị cho cuộc chiến đấu theo ý định chiến lược của Đảng. Quân ủy Trung ương trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc công tác chuẩn bị, đặc biệt là nâng cao trình độ đánh tiêu diệt lớn của bộ đội chủ lực ở các thành phố. Các hướng tiến công trọng điểm là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng; phương châm tác chiến là bất ngờ, đánh mãnh liệt vào các trung tâm đầu não chính trị, quân sự của Mỹ - ngụy ở các thành phố, thị xã.

Bộ đội chủ lực Quân khu Trị - Thiên hành quân trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968. Ảnh tư liệu.

Thời điểm Tổng tiến công xác định vào đêm 29 rạng ngày 30-1-1968 (từ Giao thừa Tết Mậu Thân 1968). Quân và dân miền Nam bất ngờ, đồng loạt tiến công, kết hợp với nổi dậy ở 4 thành phố, 37 thị xã và hàng trăm quận lỵ, thị trấn, trọng điểm là ở các thành phố Sài Gòn, Huế và Đà Nẵng có sự tham gia của bộ đội chủ lực đã giành nhiều thắng lợi to lớn. Theo kế hoạch tổng tiến công ở Sài Gòn là loạt pháo bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ chỉ huy MACV lúc giao thừa (đêm 29 rạng ngày 30-1-1968), song phải đến 2 giờ ngày mùng 1 Tết Mậu Thân (tức ngày 30-1-1968), cuộc tổng tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn mới bắt đầu. Cuộc tiến công đồng loạt và bất ngờ bằng lực lượng của bộ đội chủ lực Miền (các Sư đoàn 5, 7 và 9) và bộ đội địa phương với những đòn tiến công mạnh mẽ vào các căn cứ địch ở vùng ven thành phố; phối hợp chặt chẽ với bộ đội đặc công, biệt động đánh vào nhiều mục tiêu quan trọng của Mỹ-ngụy trong thành phố Sài Gòn là cách đánh táo bạo, rất hiểm hóc, làm rối loạn hậu phương của chúng, gây tiếng vang lớn trong nước, sang cả nước Mỹ và lan rộng ra thế giới.

Tại Thành phố Huế, trọng điểm thứ hai của tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, các đơn vị bộ đội chủ lực Quân khu Trị-Thiên từ cánh Nam mở cuộc tiến công vào các vị trí của địch ở nội thành. Phối hợp với cánh Nam, các đơn vị bộ đội chủ lực cùng lực lượng vũ trang địa phương trên cánh Bắc hỗ trợ nhân dân nổi dậy, giành quyền làm chủ ở vòng ngoài. Cuộc tiến công vào Thành phố Huế bằng đòn tiến công của bộ đội chủ lực, đặc công và lực lượng vũ trang địa phương kết hợp với nổi dậy của quần chúng đã giành thắng lợi lớn. Mặt trận Liên minh dân tộc, dân chủ và hòa bình thành phố ra đời, tiếp đó, Ủy ban nhân dân cách mạng Thừa Thiên-Huế được thành lập quản lý mọi mặt thành phố trong một thời gian.

Tại Đà Nẵng, sau khi pháo binh ta bắn phá các sân bay Đà Nẵng, Nước Mặn và lực lượng biệt động, tự vệ đánh chiếm một số mục tiêu ở nội thành, ngày 29-1-1968 (tức 30-12 Đinh Mùi), Trung đoàn bộ binh 31 (thiếu), Tiểu đoàn bộ binh 1 cùng một số đơn vị binh chủng và địa phương tiến công một số vị trí địch trong thành phố.

Cuộc tiến công của bộ đội chủ lực cùng với bộ đội đặc công, biệt động và lực lượng vũ trang địa phương vào các thành phố Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng đã góp phần quyết định vào thắng lợi chung của tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 trên toàn chiến trường miền Nam, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của địch ở miền Nam và chấn động nước Mỹ. Ngày 31-3-1968, Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng mọi hoạt động bằng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận đàm phán với chính phủ ta ở Hội nghị Pa-ri (Pháp).

So sánh lực lượng giữa ta và địch về quân số, vũ khí trang bị kỹ thuật, sức cơ động và trình độ tác chiến, địch hơn ta gấp nhiều lần, ta khó có thể thực hiện đánh tiêu diệt chiến dịch, chiến lược đối với quân viễn chinh Mỹ, thì việc tìm ra cách đánh mới là tổ chức và sử dụng bộ đội chủ lực cùng các lực lượng vũ trang đánh thẳng vào trung tâm đầu não chính trị, quân sự của địch ở các thành phố Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và nhiều thành phố, thị xã, kết hợp với nổi dậy của quần chúng là một quyết định sáng tạo, táo bạo chưa có tiền lệ trong các cuộc chiến tranh do Đảng lãnh đạo.

Đảng ta xác định bộ đội chủ lực là bộ phận quan trọng nhất của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, bởi nó là lực lượng lớn có khả năng đánh tiêu hao, tiêu diệt, kìm giữ chân địch ở trong và ngoài các thành phố. Vì thế, ngay từ khi Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, bộ đội chủ lực được chú trọng chấn chỉnh về tổ chức biên chế, bổ sung quân số và vũ khí trang bị; đồng thời khẩn trương xây dựng, huấn luyện, bước đầu nắm vững những vấn đề cơ bản về tác chiến trong thành phố. Bộ đội chủ lực đã cùng các lực lượng vũ trang tiêu hao, tiêu diệt, kìm giữ quân địch ở trong và vùng ven thành phố, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy, giành quyền làm chủ ở một số nơi.

Mặc dù còn một số hạn chế, nhưng việc tổ chức và sử dụng bộ đội chủ lực trong tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đây là cơ sở tạo tiền đề để Đảng và quân đội ta tiếp tục xây dựng, phát triển cách tổ chức, sử dụng bộ đội chủ lực trong những trận đánh lớn có ý nghĩa chiến dịch, chiến lược, đặc biệt là trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thống nhất đất nước.

Đại tá, TS Dương Đình Lập