Thực tiễn bảo đảm hậu cần, tài chính tại địa bàn chiến lược Quân khu 2 thời gian qua, từ những bài học khốc liệt trong ứng phó thiên tai đến áp lực tinh giản bộ máy hướng về cơ sở đã chỉ ra rằng: Sự thay đổi không thể chỉ dừng lại ở sơ đồ tổ chức, mà phải bắt đầu từ một cuộc “tái cấu trúc” toàn diện tư duy giáo dục, đào tạo quân sự. Để người cán bộ hậu cần, tài chính tương lai đủ tầm gánh vác sứ mệnh, việc kéo gần khoảng cách giữa bục giảng nhà trường và chiến trường thực tế hiện nay không còn là một khẩu hiệu, mà đã trở thành mệnh lệnh hành động cấp bách.
Địa bàn Quân khu 2 là vùng chiến lược phòng thủ đặc biệt quan trọng, “phên giậu” phía Tây Bắc của Tổ quốc. Địa hình chủ yếu là núi cao, chia cắt, khí hậu khắc nghiệt và thường xuyên chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai. Thực tiễn đó biến nơi đây thành một “phòng thí nghiệm lớn”, thử thách mọi lý thuyết về công tác bảo đảm hậu cần, tài chính quốc phòng.
Thời gian qua, đặc biệt là trong trận cuồng phong của siêu bão Yagi, toàn ngành Hậu cần - Kỹ thuật Quân khu đã phát huy tối đa phương châm “4 tại chỗ”, kịp thời cơ động lực lượng, phương tiện, bảo đảm tuyệt đối lượng dự trữ sẵn sàng chiến đấu, cung ứng hàng trăm tấn nhu yếu phẩm, cứu trợ đồng bào vùng lũ quét, sạt lở đất.
 |
| Cán bộ, chiến sĩ Bộ CHQS tỉnh Tuyên Quang cùng các lực lượng tham gia tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục hậu quả mưa lũ, sạt lở đất tại xã Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang năm 2025. Ảnh: THẾ ĐỒNG |
Những chiến công thầm lặng đó được xây dựng trên một nền tảng nguồn nhân lực không ngừng được củng cố. Tính đến nay, đội ngũ cán bộ hậu cần, tài chính trong toàn Quân khu đã đạt 96,03% so với nhu cầu biên chế; trong đó tỷ lệ có trình độ đại học trở lên đạt tới 95,99% (riêng trình độ sau đại học đạt 6%). Nhiều mô hình tự lực, tự cường sáng tạo đã xuất hiện và phát huy hiệu quả cao trong thực tế, tiêu biểu như việc tổ chức gia công, sản xuất hơn 2.000 hộp thịt lợn, thịt bò tại kho của Sư đoàn 316 để phục vụ nhiệm vụ dã ngoại và phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.
Thực tế sinh động tại Tây Bắc đã chứng minh một chân lý: Ở đâu người cán bộ hậu cần sở hữu bản lĩnh kiên định, tinh thông nghiệp vụ và tư duy hành động quyết liệt, ở đó thế trận hậu cần nhân dân được củng cố vững chắc, tạo nên “bệ đỡ” vững bền cho sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang.
 |
| Cán bộ, chiến sĩ Ban Chỉ huy phòng thủ khu vực 3-Bắc Quang (Bộ CHQS tỉnh Tuyên Quang) giúp nhân dân di chuyển tài sản đến nơi an toàn. Ảnh THẾ ĐỒNG |
Tuy nhiên, cuộc cách mạng quân sự trên thế giới cùng chủ trương thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 đang đặt ngành hậu cần trước những bài toán chưa có tiền lệ. Cuộc xung đột quân sự Nga - Ukraine bước sang năm thứ năm (2022 - 2026) cùng hàng loạt va chạm vũ trang hiện đại gần đây đưa ra lời cảnh báo: Chiến tranh tương lai không còn giới hạn ở các không gian truyền thống, mà mở rộng sang không gian mạng, không gian điện từ và tác chiến thông tin đa chiều.
Trong dòng chảy đó, khi cấu trúc bộ máy tinh giản tối đa, khi sĩ quan chính quy được đưa về đảm nhiệm chức danh tại Ban Chỉ huy quân sự cấp xã, người cán bộ hậu cần ở cơ sở lập tức đối mặt với yêu cầu “đa năng hóa”. Họ không còn thuần túy làm nhiệm vụ “giữ kho, cấp phát” thụ động, mà phải trực tiếp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch tạo nguồn, phối hợp với các lực lượng dân quân tự vệ, công an xử trí các tình huống khẩn cấp tại chỗ. Song hành với đó là cuộc cách mạng chuyển đổi số len lỏi vào từng khâu quản trị tài chính. Mọi nguồn lực đòi hỏi phải được quản lý chặt chẽ, tối ưu hóa bằng công nghệ số, đặt ra rào cản lớn đối với một bộ phận cán bộ ngại thay đổi, vốn quen với phương thức thủ công truyền thống.
Đối chiếu với thực tế đó, chúng ta thẳng thắn nhìn nhận: Khoảng cách giữa bục giảng nhà trường và chiến trường thực tế hiện chưa được thu hẹp một cách thực chất. Sự đổi mới trong hệ thống tài liệu, giáo trình, phương pháp giảng dạy tại các nhà trường nhìn chung còn chậm cập nhật so với xu thế phát triển vũ khí trang bị công nghệ cao. Tính liên ngành trong đào tạo còn mỏng. Học viên chuyên ngành hậu cần, tài chính khi tốt nghiệp ra trường đôi khi còn thiếu tư duy hệ thống, thiếu năng lực tác chiến độc lập trong môi trường bị chia cắt, phải mất nhiều thời gian để “tự bơi”, tự thích nghi với dòng chảy thực tế tại đơn vị.
Để nguồn nhân lực hậu cần, tài chính không chỉ “bắt kịp” mà phải “đi trước, đón đầu” tương lai, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 2 đề xuất 5 nhóm giải pháp đột phá, mang tính “đơn đặt hàng” thực tế gửi đến Học viện Hậu cần, đó là:
Một là, nâng cao nhận thức, hành động theo phương châm “rõ người, rõ việc...”. Cần quán triệt và cụ thể hóa sâu sắc Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Mỗi cán bộ, giảng viên phải nhận thức sâu sắc rằng đổi mới giáo dục là khâu đột phá của mọi đột phá. Việc triển khai các nhiệm vụ đào tạo phải được thực hiện triệt để theo phương châm chỉ đạo: “Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả”, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng chủ quan, hình thức.
 |
| Lực lượng quân y Bộ CHQS tỉnh Điện Biên khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân vùng thiên tai Xa Dung, tỉnh Điện Biên (năm 2025). Ảnh: ĐỨC HẠNH |
Hai là, đổi mới nội dung, chương trình dạy học theo hướng “Khoa học - Hiệu quả - Kịp thời”. Nhà trường cần bám sát phương châm: “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”. Trọng tâm là rà soát, tinh chỉnh chương trình đào tạo sau đại học và chủ nhiệm hậu cần - kỹ thuật cấp trung, lữ đoàn. Giáo trình phải liên tục cập nhật những vấn đề mới về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp, tổ chức biên chế mới của Quân đội và các phương pháp tác chiến hiện đại được rút ra từ tổng kết thực tiễn các cuộc xung đột gần đây trên thế giới.
Ba là, phát triển đội ngũ nhà giáo gắn với luân chuyển thực tế. Học viện cần kết hợp chặt chẽ việc thực hiện Đề án xây dựng đội ngũ nhà giáo giai đoạn 2023 - 2030 với Đề án của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài đối với Quân đội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Giải pháp cốt lõi là tăng cường luân chuyển thực tế giữa giảng viên nhà trường với các đơn vị huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, cơ quan quân sự địa phương địa bàn biên giới để “nhúng” người thầy vào dòng chảy thực tiễn, giúp bài giảng luôn tươi mới, giàu hơi thở chiến trường.
Bốn là, hiện thực hóa mô hình “Nhà trường thông minh”. Ưu tiên nguồn lực đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất, thao trường huấn luyện dã chiến phù hợp với vũ khí trang bị công nghệ cao. Đẩy mạnh xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin, trung tâm huấn luyện mô phỏng, phòng học đa năng và thư viện số. Ứng dụng công nghệ để đổi mới phương pháp kiểm định, khảo thí, bảo đảm kết quả đánh giá học viên khách quan, chính xác tuyệt đối.
Năm là, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học gắn với đo lường thực tế. Tập trung xây dựng các tổ nghiên cứu mạnh đi sâu vào khoa học hậu cần quân sự, nghệ thuật bảo đảm trong tác chiến hiện đại và xây dựng tiềm lực hậu cần phòng thủ quân khu. Đặc biệt, Học viện cần chủ động thiết lập kênh phối hợp với các đơn vị thực tế như Quân khu 2 để khảo sát, đánh giá chất lượng học viên sau tốt nghiệp, lấy sự phản hồi từ đơn vị làm thước đo thực chất nhất để điều chỉnh quy trình giáo dục.
Yêu cầu xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” đòi hỏi mỗi bước đi của công tác đào tạo đều phải mang tầm nhìn chiến lược. Người cán bộ hậu cần, tài chính tương lai phải sở hữu chiếc “kiềng ba chân” vững chắc: Bản lĩnh chính trị kiên định; tinh thông giáo lý chuyên ngành kết hợp tư duy quản trị số và năng lực dân vận khéo. Khi nhà trường chủ động chuyển mình, khơi thông đột phá từ bục giảng, đó cũng là lúc những nút thắt thực tiễn tại đơn vị sẽ được khơi thông từ gốc rễ, giúp ngành Hậu cần - Tài chính Quân đội tự tin bước vào kỷ nguyên mới, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh là mạch máu, là điểm tựa vững bền của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.