Trường Sĩ quan Lục quân 2 (TSQLQ2) là một trung tâm đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội bậc đại học ở khu vực phía Nam. Phát huy truyền thống “Nhà trường gắn với chiến trường”, bước vào giai đoạn mới, TSQLQ2 đang tích cực đổi mới nội dung, chương trình dạy học, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, giảng viên, nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo (GD-ĐT). Nhân kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống (27-8-1961/27-8-2006), Thiếu tướng Nguyễn Viết Khai, Chính ủy TSQLQ2 đã trả lời phỏng vấn báo Quân đội nhân dân.
PV: Thưa đồng chí Thiếu tướng-Chính ủy! Được biết TSQLQ2 ra đời giữa lòng chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong điều kiện chiến tranh, nhiệm vụ GD-ĐT được thực hiện như thế nào?
Thiếu tướng Nguyễn Viết Khai (NVK): TSQLQ2 tiền thân là Trường Quân chính trung, sơ cấp Quân Giải phóng miền Nam, thành lập ngày 27-8-1961 tại Hòa Hiệp, Tân Biên, Tây Ninh, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt. Vừa tổ chức huấn luyện theo yêu cầu của chiến trường, vừa cơ động chiến đấu, nhà trường gặp rất nhiều khó khăn, nhất là tài liệu và vật chất huấn luyện, hậu cần. Để bảo đảm yếu tố bí mật, an toàn, từ năm 1961 đến năm 1975, nhà trường đã 5 lần thay đổi phiên hiệu, 9 lần chuyển địa điểm đóng quân. Đội ngũ giáo viên thời kỳ đó đa số trưởng thành từ phong trào đấu tranh vũ trang ở địa phương, một số đồng chí ở miền Nam tập kết ra Bắc từ năm 1954, sau khi được đào tạo cơ bản tại Trường sĩ quan Lục quân Việt Nam, được điều về trường làm công tác quản lý, giảng dạy. Khi vào Nam, vì yếu tố bí mật nên không ai được mang theo tài liệu...
PV: Làm công tác giảng dạy mà không có tài liệu thì quả là hết sức nan giải. Nhưng, thưa đồng chí Thiếu tướng, truyền thống của bộ đội ta là càng khó khăn thì tính sáng tạo càng được bộc lộ rõ nhất?
Thiếu tướng NVK: Đúng vậy! Trước thách thức đó, nhà trường đã xác định quyết tâm phải biên soạn tài liệu tại chỗ. Anh em tổ chức viết tài liệu, giáo trình bằng cách nhớ lại những kiến thức đã học ở trường. Người nọ bổ sung cho người kia để bảo đảm cho nội dung chương trình được đầy đủ, hợp lý nhất. Nhiều cán bộ, giáo viên đã trực tiếp đến những nơi chiến sự ác liệt, vừa tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, vừa tích lũy kinh nghiệm, thu thập những cách đánh hay làm cơ sở nghiên cứu, bổ sung cho bài giảng. Có bộ phận cải trang, bí mật luồn sâu vào vùng địch hậu để tìm kiếm đồ dùng học tập. Có những giai đoạn nhà trường phải dựng lán trại bằng cây rừng làm lớp học, nhiều lúc học viên phải dùng ba lô làm bàn học. Nội dung và phương pháp huấn luyện được vận dụng sáng tạo cho phù hợp với yêu cầu của chiến trường. Vừa đào tạo cán bộ bổ sung cho chiến trường, vừa làm nhiệm vụ của một đơn vị chiến đấu, nhà trường đã trực tiếp tham gia nhiều trận đánh, lập nhiều chiến công xuất sắc...
PV: Và thực tế chiến đấu chính là nguồn tư liệu sống động bổ sung trực tiếp cho bài giảng...
Thiếu tướng NVK: Mỗi trận đánh đã thực sự trở thành một bài học thực tiễn bổ ích, là đợt “sát hạch” nghiêm túc và khắc nghiệt về chất lượng dạy – học cho cán bộ, giáo viên và học viên. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, nhà trường đã vượt mọi khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, hoàn thành xuất sắc 19 khóa học, đào tạo hơn 10.000 cán bộ quân sự, chính trị bổ sung cho các đơn vị chiến đấu trên khắp chiến trường miền Nam. Nhiều đồng chí trong đội ngũ ấy đã trưởng thành, sau này giữ những cương vị lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Nhiều đồng chí được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân...
PV: Quả thật, nếu không ôn lại lịch sử, không nhìn quá khứ bằng con mắt khách quan và trân trọng, thì lớp học viên, sĩ quan trẻ hôm nay khó có thể hình dung nhiệm vụ GD-ĐT của nhà trường lại có những giai đoạn khó khăn, ác liệt như vậy...
Thiếu tướng NVK: Vì thế cho nên trong điều kiện hiện nay, bên cạnh đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thống, việc truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu vào bài học cho học viên là cực kỳ quan trọng. Dù thời nào thì nhiệm vụ đào tạo sĩ quan cũng phải tuân thủ phương châm “Lý luận gắn với thực tiễn”, đáp ứng yêu cầu của đơn vị và của chiến trường khi có tình huống. Hiện nay đội ngũ cán bộ, giảng viên nhà trường còn 22% đã trải qua chiến đấu, đó là “pho” tư liệu rất quí giá, vừa truyền thụ kiến thức thực tiễn, vừa để “tiếp lửa truyền thống” cho học viên...
PV: Nhưng “pho” tư liệu ấy không là vô tận, thưa đồng chí!
NHỮNG PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ
Trải qua 45 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, TSQLQ2 đã được Đảng, Nhà nước và Quân đội trao tặng những phần thưởng cao quí:
- Đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân
- 1 Huân chương Quân công hạng Nhất
- 1 Huân chương Quân công hạng Ba
- 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất
- 4 Huân chương Chiến công hạng Ba
- 5 lần được tặng cờ thưởng luân lưu của Chính phủ và Bộ Quốc phòng
Cùng nhiều phần thưởng khác.
|
Thiếu tướng NVK: Đúng! Đội ngũ cán bộ, giảng viên đã qua chiến đấu đang ngày một ít dần. Đó là qui luật. Thực tế đó không chỉ ở TSQLQ2 mà là chung của toàn quân. Cho nên những kinh nghiệm chiến đấu, bài học từ thực tiễn chiến tranh phải được nghiên cứu một cách khoa học, đúc kết thành tài liệu, giáo trình, trở thành một dòng chảy kiến thức xuyên suốt trong các thế hệ cán bộ, giảng viên. Bước vào giai đoạn mới, nhà trường xác định phương châm GD-ĐT là “Cơ bản, toàn diện, hệ thống, thống nhất, chuyên sâu”. Bắt đầu từ năm 1998, nhà trường được Chính phủ giao nhiệm vụ đào tạo bậc Đại học quân sự. Nhà trường đã và đang chú trọng xây dựng, qui hoạch đội ngũ cán bộ, giảng viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hóa về chất lượng, có khả năng nghiên cứu khoa học, cập nhật kiến thức mới, làm chủ phương tiện, trang bị hiện đại và phương pháp dạy học tiên tiến, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giai đoạn mới. Chúng tôi thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, bằng cách luân phiên đưa đi đào tạo nâng cao ở các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội; tổ chức đi thực tế ở đơn vị cơ sở, tham quan học tập kinh nghiệm giảng dạy, điều hành, quản lý ở các học viện, trường bạn. Từ chỗ chỉ có 12% có trình độ đại học vào năm 1995, đến nay đội ngũ cán bộ, giảng viên nhà trường đã có 1 Phó Giáo sư, 1 Nhà giáo ưu tú, 15 Tiến sĩ, 150 Thạc sĩ, 99,8% có trình độ đại học và sau đại học...
PV: Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, giảng viên là vấn đề thuộc về nhân tố con người. Nhưng điều cơ bản nhất trong GD-ĐT vẫn là nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy, thưa đồng chí!
Thiếu tướng NVK: Đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy vừa là yêu cầu cấp bách, vừa là biện pháp lâu dài của nhà trường. Để đáp ứng yêu cầu này, nhà trường đã tập trung nghiên cứu, hoàn thiện mặt bằng kiến thức đại học theo qui định của Nhà nước, bảo đảm mục tiêu đào tạo theo chức vụ của sĩ quan phân đội, không ngừng chuẩn hóa hệ thống giáo trình, tài liệu bậc đại học, gắn công tác giảng dạy với đẩy mạnh nghiên cứu khoa học phục vụ nâng cao chất lượng giảng dạy. Những năm qua, nhà trường đã hoàn thành 15 đề tài khoa học cấp Bộ, biên soạn 90 giáo trình, tài liệu, thực hiện 273 sáng kiến, sáng chế có chất lượng tốt phục vụ yêu cầu đào tạo đại học. Trong huấn luyện, nhà trường chủ trương tăng thời lượng huấn luyện thực hành và huấn luyện đêm, kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp dạy học truyền thống với phương pháp hiện đại, tăng cường bồi dưỡng năng lực tư duy độc lập, sáng tạo và khả năng hoạt động thực tiễn cho người học; khắc phục lối truyền thụ kiến thức một chiều, rập khuôn, máy móc; bảo đảm cho sĩ quan ra trường phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, hoàn thành tốt chức trách ban đầu là trung đội trưởng, lên đại đội, tiểu đoàn trưởng và có khả năng phát triển lâu dài trong quân đội.
PV: Xin cảm ơn đồng chí Thiếu tướng.
Phan Tùng Sơn (thực hiện)