QĐND - Ngày 13-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập các tòa án quân sự và chỉ sau một thời gian ngắn, các tòa án quân sự đã phát triển thành hệ thống ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước.
Góp công trong thắng lợi của dân tộc
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Nhiệm vụ bảo vệ chế độ, bảo vệ nền độc lập còn non trẻ, trấn áp bọn phản cách mạng đòi hỏi phải có các tòa án cách mạng và các tòa án quân sự. Ngày 13-9-1945, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ký Sắc lệnh số 33C thành lập các tòa án quân sự.
Tiếp đó, ngày 23-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục ra Sắc lệnh số 163 thành lập Tòa án Binh lâm thời. Sau đó, Tòa án binh phát triển gồm Tòa án Binh Tối cao, Tòa án Binh khu Trung ương, các tòa án binh khu và các tòa án binh mặt trận. Các tòa án binh đã góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ, hoàn thành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
 |
| Các cán bộ Tòa án Quân sự Trung ương trao đổi nghiệp vụ. Ảnh: HÀ KHÁNH. |
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lâu dài và gian khổ là thử thách to lớn, nhưng cũng là điều kiện để các tòa án quân sự trưởng thành. Hệ thống Tòa án quân sự được xây dựng gồm hai cấp: Tòa án Quân sự Trung ương và các tòa án quân sự quân khu, quân chủng, quân đoàn và tương đương. Các tòa án quân sự đã khắc phục những khó khăn, thiếu thốn về đội ngũ cán bộ, hệ thống pháp luật và cơ sở vật chất để làm tròn chức năng, nhiệm vụ. Trong điều kiện chiến tranh hay hòa bình, ở tiền tuyến hay hậu phương, các tòa án quân sự đã hoạt động có hiệu quả, góp phần xứng đáng vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam, trở thành nhân tố góp một phần quan trọng vào thắng lợi lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Không ngừng phát triển về tổ chức
Khi đất nước bước vào thời kỳ hòa bình và đổi mới, các tòa án được củng cố và phát triển toàn diện. Pháp lệnh Tổ chức Tòa án quân sự năm 1986 tạo bước đột phá, chính thức xác định hệ thống Tòa án quân sự ba cấp gồm: Tòa án Quân sự cấp cao (nay là Tòa án Quân sự Trung ương), các tòa án quân sự quân khu và tương đương, các tòa án quân sự khu vực, nằm trong hệ thống tòa án thống nhất của cả nước. Các tòa án quân sự được tăng cường về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ.
Trong điều kiện hòa bình, tội phạm có những đặc điểm mới, tính nghiêm trọng, phức tạp không giảm. Các hành vi phạm tội vì tư lợi, tham nhũng, các tội xâm phạm tài sản, xâm phạm mối quan hệ nội bộ trong quân đội hay quan hệ quân-dân, các tội liên quan đến sự phát triển của khoa học, kỹ thuật-công nghệ cũng gia tăng. Từ yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, công tác tổ chức xét xử cũng có những cải tiến, việc xét xử lưu động, xét xử án trọng điểm được chú ý. Quan hệ giữa Tòa án quân sự với các đơn vị quân đội và chính quyền trên địa bàn được quan tâm hơn...
Trong quá trình đổi mới đất nước và thực hiện chiến lược cải cách tư pháp, hệ thống tòa án nói chung, hệ thống Tòa án quân sự nói riêng đã có những bước phát triển không ngừng: Pháp lệnh Tổ chức Tòa án quân sự năm 2002 đã hoàn thiện một bước thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự theo ba cấp, quyền tư pháp của tòa án lần đầu tiên được Hiến pháp năm 2013 chính thức ghi nhận, tạo cơ sở cho việc ban hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 với bước phát triển tiến bộ về mặt lập pháp ở nước ta.
Nhiệm vụ chính trị của các tòa án quân sự là xét xử, thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ an ninh quốc phòng, kỷ luật quân đội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục, cải tạo người phạm tội và các đối tượng khác, kiến nghị khắc phục nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm. Hoạt động của Tòa án quân sự là một mặt của việc xây dựng tổ chức, xây dựng con người. Đây chính là bản chất của tòa án cách mạng.
Vươn lên tầm cao mới
Thời gian tới, nhiệm vụ xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại cùng với việc đẩy mạnh cải cách tư pháp đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với các tòa án quân sự. Phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm của tòa án quân sự là: Quán triệt đầy đủ và triển khai thực hiện kịp thời những nội dung mới về tổ chức và hoạt động của tòa án, quan trọng là Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Dân sự; các văn bản hướng dẫn thực hiện của các cấp có thẩm quyền, bảo đảm sự đồng bộ với hệ thống tòa án cả nước và phù hợp với những đặc thù của quân đội. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, luôn bám sát nhiệm vụ chính trị, lấy mục tiêu “xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật” và nguyên tắc “độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” làm kim chỉ nam cho hoạt động, xứng đáng với vai trò của cơ quan thực hiện quyền tư pháp trong quân đội. Đồng thời, nâng cao một bước chất lượng tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Đảng ủy, Thủ trưởng các cấp có liên quan về công tác tòa án và pháp luật trong quân đội. Thực hiện tốt từng bước lộ trình cải cách tư pháp, nhằm xây dựng hệ thống Tòa án quân sự vững mạnh toàn diện, đội ngũ cán bộ, nhân viên Tòa án quân sự có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất trong sáng, tinh thông về nghiệp vụ; biên chế khoa học, phù hợp, cơ sở vật chất hiện đại, tiên tiến, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Trải qua 70 năm xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, sự chỉ đạo về nghiệp vụ của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án quân sự luôn phát huy tốt truyền thống, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng, phụng công thủ pháp, chí công vô tư, gần dân, hiểu dân, giúp dân, đoàn kết, gương mẫu, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tòa án quân sự luôn phấn đấu để xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phục vụ tốt yêu cầu nhiệm vụ chính trị, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Thiếu tướng NGUYỄN VĂN HẠNH - Phó chánh án TAND Tối cao, Chánh án TAQS Trung ương