Theo kế hoạch của cuộc tiến công chiến lược năm 1968, hướng tiến công chiến lược chủ yếu của ta là các thành phố, trung tâm đầu não của Mỹ-ngụy, trọng điểm là Sài Gòn-Huế-Đà Nẵng; hướng phối hợp quan trọng là mặt trận Đường 9-Khe Sanh (rừng núi). Ta chủ trương tiến hành chiến dịch Đường 9-Khe Sanh trước từ 10 đến 15 ngày nhằm kéo địch ra Đường 9 để tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận và giam chân chúng, tạo điều kiện cho hướng chủ yếu tiến công bất ngờ, đồng loạt vào đêm giao thừa Tết Mậu Thân.

Thực hiện kế hoạch đó, chiến dịch Đường 9-Khe Sanh được mở vào ngày 20-1 (trước Tết Mậu Thân 10 ngày). Qua 19 ngày chiến đấu (từ ngày 20-1 đến 7-2), ta thu được một số thắng lợi, nhưng rất ít trận tiêu diệt gọn quân địch (trừ trận Làng Vây), thậm chí có trận không thành công (trận tiến công điểm cao 832 và trận Cam Lộ). Vì vậy, địch không tăng viện, ứng cứu cho Khe Sanh vì địch chưa bị đánh mạnh, tiêu diệt lớn.

Đến giữa tháng 2-1968, Trung đoàn 66 vào thay thế cho Sư đoàn 325, trung đoàn chỉ để lại lực lượng nhỏ kiềm chế ở điểm cao 832 và 845, đưa lực lượng chính vào trực tiếp vây lấn phía tây Tà Cơn. Trận địa vây lấn đã đưa vào sát hàng rào địch, dùng mìn định hướng phá hủy vật cản và bắn tỉa tiêu diệt những tên lính Mỹ đi lại trong căn cứ. Ở phía nam Tà Cơn, đến cuối tháng 2, ba mũi vây lấn của Trung đoàn 9, đã vào cắt được hàng rào địch, ở phía sân bay Tà Cơn đã lấn đến giữa hàng rào địch, cách tiền duyên phòng ngự của chúng khoảng 40 đến 50m.

Trước sức vây lấn của ta ngày càng chặt, ngày 3-4, địch đổ 1 tiểu đoàn, lữ 2 kỵ binh xuống khu vực điểm cao 471, cách ngã 3 Ku Bốc khoảng 2km. Sáng 4-4, địch đổ thêm 1 tiểu đoàn thuộc lữ đoàn 3, sư 1 kỵ binh xuống đông nam Ku Bốc. Sáng ngày 5-4, địch đổ thêm 2 tiểu đoàn thuộc lữ đoàn 1 kỵ binh bay xuống vùng Pa-ka-húc Hạ làm nhiệm vụ án ngữ ngăn chặn lực lượng ta ở phía tây Khe Sanh. Đến cuối ngày 5-4, Sư đoàn 1 kỵ binh không vận (thiếu 1 tiểu đoàn) đã có đủ mặt ở Khe Sanh. Như vậy, từ ngày 20-1, ta nổ súng tiến công địch ở Khe Sanh, nhưng mãi đến tháng 4 địch mới đưa quân giải tỏa Khe Sanh. Nguyên nhân của việc kéo viện binh địch ra chậm là ta chỉ mới chú ý đến quy luật cũ của địch, không thấy những điều kiện hoàn cảnh mới chi phối tới hoạt động của chúng. Ta vẫn cho rằng, hễ chủ lực ta xuất hiện ở đâu là địch hành quân "tìm diệt" ngay vào khu vực đó như những năm 1965-1966 và đầu năm 1967. Vì vậy, ta chủ trương hạn chế đánh các điểm lớn, chỉ đánh một vài điểm nhỏ còn thì vây, chờ viện, dành lực lượng để đánh viện. Chủ trương này trước đây thì phù hợp, nhưng nay không phù hợp với tình hình khách quan lúc đó quân địch đã bị thất bại nặng nề sau hai cuộc phản công chiến lược "tìm diệt" vào hai mùa khô năm 1965-1966 và 1966-1967, chúng không còn hung hăng như trước. Trái lại, đến lúc này muốn đưa quân đi ứng cứu, chúng phải cân nhắc thận trọng hơn. Đặc biệt là sau khi ta đã đồng loạt nổ súng ở các đô thị (30-31 tháng 1) thì chúng còn lo đối phó, việc kéo địch ra lại càng khó.

Từ đó cho thấy, muốn chủ động kéo viện binh địch ứng cứu giải tỏa thì phải đánh mạnh đến mức buộc địch phải thấy mối nguy cơ nếu không tăng viện ngay thì đồng bọn tại chỗ sẽ bị tiêu diệt. Trong chiến dịch, nếu ta liên tục tiêu diệt các cứ điểm ngoại vi và sau đó vào bao vây, đánh lấn căn cứ Tà Cơn ngay thì nhất định địch sẽ tăng viện sớm. Ta đánh trận Hướng Hóa, sau 17 ngày mới đánh trận Làng Vây và sau trận Làng Vây gần một tháng mới thực sự vây lấn tấn công Tà Cơn (trong tháng 2 mới chỉ bao vây Tà Cơn). Các trận đánh trên đều có tác dụng nhất định, nhưng tiến hành xa nhau quá và cũng không tạo ra được tình huống quan trọng nào của chiến dịch. Vì vậy, ta không kéo được viện binh lớn lên Khe Sanh theo đúng yêu cầu của chiến lược về thời gian.

Từ thực tiễn trên cho thấy, muốn địch đưa lực lượng đi ứng cứu, giải tỏa để ta tiêu diệt chúng ngoài công sự thì yêu cầu đánh điểm ngày càng cao hơn, phải tập trung lực lượng mạnh để đánh điểm, diệt địch trong công sự vững chắc, lúc đó mới có thể buộc địch phải hành quân tăng viện, hành quân phản kích để ta tiêu diệt chúng ngoài công sự.

LÊ VĂN BẢO