QĐND - Cách đây 40 năm, ngày 26-3-1975, trước yêu cầu nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Quân đoàn 3-Binh đoàn Tây Nguyên được thành lập trên cơ sở khối chủ lực Mặt trận Tây Nguyên, một mặt trận đầy máu lửa nhưng cũng hết sức vinh quang.
Tuy ra đời vào cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhưng các đơn vị hợp thành Quân đoàn 3 cơ bản có lịch sử, truyền thống từ kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là 11 năm đánh Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên và Khu 5. Vì vậy, lịch sử ra đời của Mặt trận Tây Nguyên (B3) ngày 1-5-1964 là điểm khởi đầu truyền thống Quân đoàn 3, là dòng chảy không ngừng của lịch sử để các thế hệ cán bộ, chiến sĩ luôn ghi tâm, khắc cốt, mang theo những chiến công trong hành trang cuộc sống, công tác, chiến đấu, học tập của mình.
 |
|
Quân đoàn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ diễn tập hiệp đồng quân binh chủng.
|
Để có được chiến thắng lẫy lừng trong Chiến dịch Tây Nguyên tháng 3-1975 và sự ra đời của Quân đoàn 3, đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ về tổ chức lực lượng của Quân đội nhân dân Việt Nam, chúng ta phải nhìn lại những năm tháng trước đó của cuộc kháng chiến trên chiến trường Tây Nguyên mới thấy hết giá trị của nó. Khó có thể nói hết tính khốc liệt, sự hy sinh, gian khổ, bệnh tật, thiếu đói mà cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Tây Nguyên-Quân đoàn 3 phải chịu đựng, nhưng tất cả vẫn một lòng quyết tâm bám trụ chiến trường, chắt chiu từng chiến thắng để tạo nên một đại thắng tháng 3-1975. Trong đó, không thể không nói đến trận tiêu diệt tiểu đoàn Mỹ đầu tiên trên chiến trường miền Nam trong Chiến dịch Plây Me năm 1965 và chiến thắng oai hùng trong Chiến dịch Đắc Tô 1 năm 1967, Chiến thắng Chư Păh năm 1969. Tiếp đó là các Chiến dịch giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh và đại bộ phận tỉnh Kon Tum năm 1972 và nhiều chiến dịch khác đã tạo tiền đề để quân-dân Tây Nguyên vững tin bước vào trận quyết chiến chiến lược cuối cùng trên chiến trường Tây Nguyên tháng 3-1975.
Lịch sử phát triển của Quân đoàn 3 trong 40 năm qua là lịch sử của những cuộc hành quân. Không phải hôm nay, mà từ thời đánh Pháp, đánh Mỹ. Ngay cả khi Quân đoàn 3 ra đời cũng là sự ra đời trong hành tiến. Đánh giặc, nhất là đánh Mỹ, sức cơ động yếu thì không bao giờ giành chiến thắng. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, quân đoàn cơ động truy quét phản động FULRO, giữ vững an ninh chính trị ở Sài Gòn - Gia Định (nay là TP Hồ Chí Minh) và nam Tây Nguyên. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, quân đoàn tiếp tục cơ động cùng với các đơn vị bạn giúp đất nước bạn Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xa-ri. Năm 1979, quân đoàn hành quân ra chiến đấu và bảo vệ biên giới phía Bắc và đến năm 1987, khi nhận nhiệm vụ trở lại Tây Nguyên, toàn quân đoàn lập tức lên đường. Từ các tỉnh biên giới phía Bắc, cán bộ, chiến sĩ quân đoàn vượt hàng nghìn ki-lô-mét về với đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ-nơi đã sinh ra mình. Được sống trên “đất mẹ”, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 luôn phấn đấu giữ trọn niềm tin và làm chỗ dựa tin cậy, vững chắc cho cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương trên địa bàn.
Trong những năm qua, cùng với nhiệm vụ trọng tâm là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, từ Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn đến các cơ quan, đơn vị đã thường xuyên phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương nơi đóng quân thực hiện tốt công tác dân vận. Trước những diễn biến phức tạp ở Tây Nguyên năm 2001 và năm 2004, quân đoàn đã phối hợp chặt chẽ với địa phương, nhanh chóng triển khai lực lượng, bảo vệ an toàn tuyệt đối các mục tiêu trọng yếu; đưa các tổ, đội công tác xuống các “điểm nóng” để tuyên truyền, vận động nhân dân, làm chỗ dựa cho chính quyền địa phương ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Trong hai cơn bão số 9 và 11 năm 2009, các đơn vị của quân đoàn đã huy động hơn 11.200 lượt cán bộ, chiến sĩ với hơn 311 chuyến ô tô; hơn 30 tấn gạo... giúp đỡ hơn 5000 người dân vùng lũ gặp nạn ở các tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Bình Định, Phú Yên và hơn 200 người dân tỉnh Rát-ta-na-ki-ri (Cam-pu-chia). Năm 2013, vào thời điểm 7 làng thuộc xã Đăk Nên (huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum) với 195 hộ dân chưa được di dời và có nguy cơ bị ngập chìm trong “biển nước” của lòng hồ thủy điện Đăk Đrinh, sau khi có yêu cầu của chính quyền địa phương, hơn 200 cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 28 (Sư đoàn 10) đã hành quân về địa bàn, tháo dỡ, bốc xếp và vận chuyển 127 ngôi nhà đến nơi ở mới; dựng mới hoàn chỉnh 98 ngôi nhà cho 98 hộ dân. Và cũng chính cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 28 đã thực hiện "cùng ăn, cùng ở, cùng làm" với nhân dân xã Đăk BLà (TP Kon Tum, tỉnh Kon Tum) để tuyên truyền, vận động 100% đối tượng theo tà đạo Hà Mòn trở về với cuộc sống bình thường. Đầu mùa khô năm 2013, gần 1000 cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Lữ đoàn Công binh 7, Tiểu đoàn 827 (Cục Hậu cần) đã hành quân trong đêm, vượt qua nhiều khe suối, núi cao hiểm trở chiến đấu với giặc lửa, cứu hàng nghìn héc-ta rừng đầu nguồn ở Tân Cảnh (Kon Tum); Bắc Biển Hồ và đỉnh Cổng trời Mang Yang (Gia Lai).
Dù ở nơi đâu, làm bất cứ nhiệm vụ gì, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 luôn hướng về nhân dân. Khi chương trình "Xây dựng nông thôn mới" được triển khai, các đơn vị trong quân đoàn đã huy động hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ và hàng trăm triệu đồng giúp nhân dân ngăn sông nắn dòng chảy, bắc cầu, làm đường, khai hoang, phục hóa đất trồng lúa nước, tu sửa nhà rông, trường học, khám, tư vấn sức khỏe và cấp thuốc điều trị miễn phí cho người dân nghèo... Đồng thời, triển khai thực hiện có hiệu quả các mô hình "Trạm xá quân dân y" và các phong trào "Hũ gạo tình thương" của Trung đoàn 24 (Sư đoàn 10), "Tấm áo tặng đồng bào" của Lữ đoàn Pháo binh 40, "Áo mới em đến trường" của Cục Hậu cần Quân đoàn... đã tạo nền tảng xây dựng "thế trận lòng dân" bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên.
Thiếu tướng NGUYỄN DUY QUYỀN, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân đoàn 3