QĐND - Từ đầu năm 1971, địch tập trung toàn bộ lực lượng mở các cuộc càn quét, tiếp tục thực hiện chương trình "bình định", giành dân, lấn đất. Đáng chú ý là địch dùng thủ đoạn chiến thuật "tam giác chiến" để đánh phá ta. Đó là, địch vừa đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, chiêu hàng, vừa tăng cường do thám, gián điệp để phục vụ cho âm mưu tập kích, phục kích, đổ quân truy bắt cán bộ, chiến sĩ và hủy hoại thôn, xóm.
rước tình hình đó, Tỉnh ủy Quảng Ngãi xác định nhiệm vụ của phong trào cách mạng là phải tập trung vào công tác chống "bình định", diệt ác, phá kìm, giành dân, giữ vững và mở rộng những vùng giải phóng, làm chủ nối liền nhau, giữ dân, hỗ trợ phong trào ở thị xã, thị trấn, mở rộng diện tiêu diệt và tiêu hao nhiều sinh lực địch, khẩn trương xây dựng LLVT, bán vũ trang và phát triển kinh tế-xã hội vùng căn cứ, vùng giải phóng.
Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, bộ đội địa phương, du kích và nhân dân Quảng Ngãi đã phối hợp với bộ đội chủ lực Khu V tổ chức nhiều trận đánh, tiến công địch, giải phóng các vùng rộng lớn, liên hoàn, nối tiếp nhau như từ đông Mộ Đức nối với bắc Đức Phổ; tây Sơn Tịnh nối bắc Bình Sơn, tạo được hành lang, bàn đạp nối liền khu căn cứ miền núi và đồng bằng. Cùng với tác chiến quân sự, ta đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, nhất là phong trào học sinh và phật giáo ở thị xã Quảng Ngãi. Với các khẩu hiệu chống địch đôn quân, bắt lính, quân sự hóa học đường, cầu nguyện hòa bình, đòi Mỹ rút quân về nước, đòi hòa hợp, hòa giải dân tộc, khiến địch ngày càng lâm vào tình trạng bị động, lúng túng, buộc phải lui về phòng ngự bị động, cố thủ ngăn chặn sức tiến công của cách mạng. Các cơ sở cách mạng của ta phát triển, lực LLVT Quảng Ngãi lớn mạnh, góp phần vào thắng lợi của cách mạng miền Nam năm 1972, tiến tới thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975.
DƯƠNG HÀ