QĐND - Cả tuần giông gió, vậy mà đêm trước ngày chúng tôi trở về đất liền, Trường Sa vằng vặc trăng nghiêng. Ánh trăng dịu dàng buông xuống mặt biển cháy lên những tâm tư, khát vọng của người canh giữ đảo xa.

Làm sao có thể quên được giây phút chia tay cán bộ, chiến sĩ đảo Đá Lát, Thuyền Chài, An Bang... trong chiều quyến luyến. Mưa rơi, gió thét gào, sóng cuồn cuộn, song người lính đảo vẫn ùa ra mép nước giơ cao tay vẫy. Hôm đó, tôi chẳng dám nhìn sâu vào những đôi mắt ấy. Những đôi mắt độ lượng và bao dung.

Những ngày ở Trường Sa, tôi thực sự ấn tượng về hình ảnh người chiến sĩ giữ đảo kiên trung giữa nơi “sóng cuồng, bão giật”. Ấn tượng bởi không gian Trường Sa bình dị, yên lành. Ấn tượng bởi vùng biển đảo của ta giàu, đẹp nhường nào. Tôi khâm phục ý chí, nghị lực phi thường của những người con đất Việt đang viết tiếp khúc tráng ca từ thuở ông cha hiên ngang “vượt biển” bằng con thuyền gỗ mong manh ra trấn giữ “phên dậu” của Tổ quốc giữa trùng khơi...

Hát tình ca trên đảo.

Gắn bó, chia sẻ với cuộc sống gian khổ của những người giữ đảo, tôi càng hiểu thêm giá trị chân thực của cuộc đời người chiến sĩ. Lính đảo Trường Sa mắt đen, da nâu, đầu đội trời, ngực chắn sóng biển đông, chân trần đạp trên cát bỏng vần vũ ươm mầm những cây phong ba... là minh chứng khẳng định sức sống mãnh liệt ở nơi “đầu sóng, ngọn gió”. Thương vô cùng câu nói của Trung úy Cao Văn Trung – Trắc thủ ra đa đảo Đá Lát: “Anh ơi! Chừng 6 tháng một lần chúng em mới được ăn một miếng thịt heo!”. Trung nói vậy bởi ở đảo chìm không thể có điều kiện nuôi heo, mà thường thì tàu từ đất liền ra đảo vài lần/năm. Tiếng là ở Trường Sa bây giờ liên lạc với người thân bằng điện thoại di động rất thuận tiện, nhưng đấy là những ngày trời yên, biển lặng, còn mùa bão giông thì rất khó khăn. Không còn cách nào khác, mỗi khi chiều đến những người lính đảo lại cùng nhau nhìn về hướng Tây – nơi ấy là quê hương, là gia đình và bạn bè, người thân... Làm sao tôi có thể quên hình ảnh những “chiến sĩ thép” đảo An Bang hợp thành “đội cảm tử” bất chấp sóng dữ kéo xuồng, đưa đoàn phóng viên báo chí lên đảo an toàn...

Giờ đây, khi đang miên man về những kỷ niệm của chuyến công tác Trường Sa, tôi lại liên tưởng tới màu trắng tinh khiết của loài hoa bàng vuông chuyên nở về đêm (loài hoa được ví là hoa Quỳnh của đảo Trường Sa). Loài hoa giản dị, khiêm nhường tỏa hương nồng nàn, dịu ngọt giữa khơi xa điệp trùng sóng vỗ. Hình ảnh người chiến sĩ giữ đảo nâng niu những cánh hoa thủy chung, son sắt như tình yêu của người lính đảo đối với quê hương, đất nước. Không gian lãng mạn, đầy chất thơ, nhạc gợi nhớ kỷ niệm nơi cầu tàu một buổi sáng mùa xuân có cuộc chia tay của những người lính tuổi mười tám, đôi mươi lần đầu ra đảo với bao nỗi niềm bịn rịn, luyến lưu, bối rối, xao lòng trước ánh mắt lúng liếng của người con gái.

Mặt biển đã bình yên, song đại dương còn tiềm ẩn những hiểm họa khôn lường. Câu nói của Chuẩn đô đốc Ngô Quang Tiến – Tư lệnh Vùng 4 Hải quân khiến tôi cảm thấy thấm thía: “Biết kết hợp chặt chẽ giữa công tác dân vận và thực hiện nhiệm vụ chính trị trọng tâm là một cách làm hiệu quả của các đơn vị quân đội đóng quân trên đảo Trường Sa. Dẫu còn nhiều khó khăn, gian khổ nhưng những người chiến sĩ vẫn coi mảnh đất “nơi đầu sóng ngọn gió” này là quê hương thứ hai của mình. Với họ, từ trong gian khổ, tình đất, tình người càng thêm mặn mà, đằm thắm. Tình yêu đảo nhỏ đã tiếp thêm sức mạnh và dũng khí cho họ”.

Bài và ảnh: Phan Tiến Dũng