QĐND - Ngày 11-7-2015, ngành Hậu cần Quân đội kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống. 65 năm qua, cán bộ, chiến sĩ ngành Hậu cần Quân đội đã nỗ lực phấn đấu, vượt mọi khó khăn, thực hiện tốt vai trò, chức năng bảo đảm hậu cần, cùng với các đơn vị trong toàn quân chiến đấu và chiến thắng, viết nên những trang sử vàng của Quân đội nhân dân và cách mạng Việt Nam.

Trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ngành Hậu cần Quân đội lúc bấy giờ còn rất non trẻ. Cơ sở hậu cần của các đơn vị gần như không có gì. Với chủ trương “tự lực cánh sinh”, cán bộ, chiến sĩ hậu cần đã chấp hành nghiêm nghị quyết của Đảng, biến lời dạy của Hồ Chủ tịch về công tác hậu cần trở thành hiện thực. Đất nước còn nghèo, nền công nghiệp, nông nghiệp hầu như chưa phát triển, do đó công tác khai thác, tạo nguồn, bảo đảm nhu cầu lương thực, thực phẩm cho bộ đội khi đó gặp muôn vàn khó khăn. Thế nhưng với bản chất sáng tạo, với tinh thần tự lực, tự cường, cán bộ, chiến sĩ ngành Hậu cần Quân đội đã làm nòng cốt cho toàn quân trong việc tăng gia sản xuất, tự túc một phần quan trọng lương thực, thực phẩm.

Trung tướng Dương Văn Rã, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (thứ ba từ trái sang) kiểm tra sản phẩm của Công ty Cổ phần 22. Ảnh: VĂN CHIỂN.

Cùng với việc duy trì bảo đảm thường xuyên, ngành Hậu cần Quân đội còn tập trung củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng, từng bước phát triển ngành hậu cần theo yêu cầu phát triển quân đội. Chính vì vậy, tới cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, ngành Hậu cần Quân đội đã từng bước lớn mạnh. Công tác khai thác, bảo đảm đã dần đi vào nền nếp, khoa học, đáp ứng kịp thời nhu cầu của các đơn vị khi thực hiện các chiến dịch, các đợt tác chiến lớn. Điển hình là trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, ngành hậu cần đã bảo đảm tới 20.000 tấn hàng hóa phục vụ các lực lượng tham gia chiến dịch, trong đó có 1.200 tấn đạn, hơn 1.780 tấn xăng-dầu, 14.950 tấn gạo và hơn 2.000 tấn thực phẩm, nhu yếu phẩm khác. Việc bảo đảm hậu cần kịp thời là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng và chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 nói chung.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi đánh dấu sự phát triển có tính đỉnh cao trong công tác bảo đảm hậu cần. Trên chiến trường rộng lớn, bao gồm cả ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia, công tác bảo đảm và công tác xây dựng ngành Hậu cần Quân đội đã được tiến hành một cách khoa học, sáng tạo ở tất cả các cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Lực lượng hậu cần được hình thành trên từng tuyến với các bộ phận như: Sản xuất, khai thác, vận chuyển, bảo đảm cho chiến trường. Các tuyến hậu cần đều được tổ chức chặt chẽ, tạo thành thế liên hoàn vững chắc. Một trong những tổ chức nổi bật của ngành Hậu cần Quân đội trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là đã tổ chức, vận hành thành công tuyến vận tải chi viện chiến lược trên Trường Sơn suốt 16 năm (từ năm 1959 đến 1975). Tuyến chi viện chiến lược 559 là hệ thống hậu cần hoàn chỉnh, đây cũng là một mặt trận gồm nhiều lực lượng tham gia như phòng không, công binh, thông tin v.v.. trong đó bộ đội vận tải làm nòng cốt. Với sự phấn đấu tích cực của toàn ngành, từ năm 1954-1975 đã tiếp nhận, thu mua, sản xuất, tạo nguồn vật chất và tổ chức bảo đảm cho các chiến trường được 9.082.153 tấn vật chất các loại (riêng từ năm 1965-1975 là 8.573.062 tấn), góp phần tích cực vào thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đến nay, những kinh nghiệm về tổ chức tuyến hậu cần chiến lược xuyên Trường Sơn vẫn là những bài học còn nguyên giá trị, có thể vận dụng trong công tác tổ chức bảo đảm hậu cần phục vụ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Ngày nay, kinh tế đất nước đang trên đà phát triển, công tác tổ chức, bảo đảm hậu cần quân sự đã có thêm nhiều bài học được đúc rút từ chiến tranh, nên việc bảo đảm hậu cần đã có những thuận lợi nhất định. Tuy nhiên, hình thức tác chiến trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc cũng đã có những thay đổi lớn, do đó đã tạo ra những thách thức đòi hỏi cơ quan hậu cần chiến lược cần phải giải quyết. Ngành Hậu cần Quân đội xác định phải luôn bám sát vào các nghị quyết của Đảng, của Quân ủy Trung ương, chỉ thị về công tác hậu cần của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, để tham mưu cho bộ chỉ đạo và triển khai công tác hậu cần bảo đảm đúng hướng. Đội ngũ cán bộ làm công tác hậu cần không ngừng được đào tạo chuyên nghiệp hóa, từng bước giúp các cán bộ hậu cần trở thành những “chuyên gia” trên các mặt của công tác hậu cần, cả ở đơn vị chủ lực và địa phương. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được chú trọng và thực hiện triệt để ở các đơn vị, học viện, nhà trường. Do đó đến nay, đội ngũ cán bộ hậu cần đã được củng cố khá cơ bản, có nhiều đồng chí có trình độ đại học, sau đại học.

Công tác tham mưu hậu cần đã và đang tập trung để vừa bảo đảm tốt nhu cầu hậu cần thường xuyên, đồng thời phải bảo đảm tốt việc tạo nguồn dự trữ chiến lược. Trong công tác bảo đảm hậu cần thường xuyên, Tổng cục Hậu cần đã tham mưu cho bộ chỉ đạo các đơn vị phát triển tăng gia sản xuất 3 cấp, gắn với các mô hình tăng gia sản xuất theo hướng tập trung (cấp sư đoàn gắn với mô hình khu căn cứ hậu cần, khu sản xuất tập trung; trung đoàn gắn với mô hình khu chế biến, chăn nuôi tập trung; tiểu đoàn tăng gia theo mô hình vườn, ao, chuồng gắn với bếp ăn). Với suất đầu tư thỏa đáng (cấp tiểu đoàn đầu tư 200 triệu đồng; cấp sư đoàn đầu tư 2-3 tỷ đồng) nên các mô hình đã phát huy hiệu quả tốt. Hiện nay, các đơn vị trong toàn quân đã cơ bản tự bảo đảm 100% nhu cầu rau xanh, kể cả lúc giáp vụ. Các đơn vị tự bảo đảm hơn 90% nhu cầu về các loại thực phẩm khác như: Thịt lợn, cá, trứng gia cầm, với giá thành luôn rẻ hơn thị trường bình quân từ 5-20% tùy theo từng loại, nhờ vậy đã cải thiện đáng kể bữa ăn của bộ đội.

Các nhiệm vụ khác như bảo đảm xăng-dầu, doanh trại, quân y... đều đã được Tổng cục Hậu cần tham mưu và chỉ đạo thực hiện đồng bộ. Hiệu quả từ các mặt công tác trên vừa góp phần giúp các đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện SSCĐ, vừa góp phần trực tiếp nâng chất lượng đời sống bộ đội ở các đơn vị trong toàn quân.

Đối với công tác bảo đảm chiến lược, Tổng cục Hậu cần đã tham mưu cho bộ rà soát xây dựng kế hoạch tổng thể về bảo đảm hậu cần phục vụ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Các căn cứ hậu cần, hậu phương đã được quy hoạch, đầu tư gắn với các hướng chiến trường. Khả năng sản xuất của các địa phương, nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp cũng đã được rà soát, quy hoạch theo hướng lưỡng dụng. Nhiều cơ quan, xí nghiệp đã được tổ chức diễn tập chuyển từ sản xuất thời bình sang thời chiến. Với kế hoạch có tính chiến lược, được quy hoạch rõ ràng, bảo đảm sẽ huy động tối đa sức mạnh của nền kinh tế quốc dân vào nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc khi có tình huống xảy ra.

Trung tướng DƯƠNG VĂN RÃ - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần