Thuận lợi và thách thức
Thuận lợi trước hết là sự đột phá về thể chế và hành lang pháp lý: Trong giai đoạn 2020-2025, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 26-1-2022 về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Thể chế hóa chủ trương này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 19-1-2023 về Chương trình hành động, Bộ Quốc phòng ban hành các Chỉ thị, Kế hoạch cụ thể. Đặc biệt, việc Quốc hội thông qua Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp đã tạo ra một hành lang pháp lý đồng bộ, vượt trội, mở ra cơ chế đặc thù chưa từng có nhằm giải phóng mọi nguồn lực của đất nước cho CNQP.
Sự hình thành của các doanh nghiệp quốc phòng trụ cột mang tầm vóc quốc tế: Điển hình là Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel), đơn vị đi đầu, đảm nhiệm sứ mệnh dẫn dắt ngành CNQP thực hiện vai trò tiên phong, mũi nhọn. Đến nay, Viettel đã chứng minh năng lực vượt bậc khi tự chủ nghiên cứu, làm chủ công nghệ và chế tạo thành công 50 loại vũ khí kỹ thuật công nghệ cao, cung cấp hơn 12.000 sản phẩm quân sự cho toàn quân. Nhiều thiết bị tinh vi vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Các sản phẩm của Viettel như đài ra đa 3D cảnh giới phòng không, đài trinh sát quang điện tử, hệ thống cảnh giới vùng trời VQ phục vụ chính xác cho Quân chủng Phòng không - Không quân tại Lễ diễu binh kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh (2-9-2025) là minh chứng hùng hồn cho thấy trí tuệ Việt Nam hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ đỉnh cao.
 |
| Khí tài Viettel trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, trong Lễ kỷ niệm diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9. |
Sự đa dạng và làm chủ trong sản xuất thực tế: Năng lực thực tế của Tổng cục CNQP và các đơn vị liên quan đã có bước nhảy vọt, hình thành rõ rệt qua 5 nhóm sản phẩm chủ lực:
Vũ khí bộ binh: Không chỉ sản xuất các loại súng bộ binh thế hệ mới, mà còn chế tạo thành công các loại súng hỏa lực mạnh như súng phóng lựu, súng cối, súng chống tăng và các loại đạn đi kèm bảo đảm độ chính xác, uy lực cao.
Tàu quân sự: Đã đóng mới thành công các tàu chiến hiện đại, tàu tuần tra lớp "TT400", đặc biệt là tàu cứu hộ tàu ngầm đa năng lớp MSSARS 9316 (mang tên tàu Yết Kiêu 927) do Nhà máy Z189 sản xuất năm 2022, đánh dấu cột mốc làm chủ kỹ thuật đóng tàu quân sự đặc chủng phức tạp.
Tên lửa và hàng không vũ trụ quân sự: Chúng ta đã làm chủ các công nghệ nền, công nghệ lõi để nghiên cứu, sản xuất các loại tên lửa đối hải, tên lửa phòng không, tên lửa đối đất có tính năng chiến - kỹ thuật tương đương các sản phẩm tiên tiến của nước ngoài. Đây là bệ phóng vững chắc để chế tạo các dòng vũ khí chiến lược tự chủ trong tương lai.
Khí tài quân sự công nghệ cao: Đã đưa vào trang bị hàng loạt kính quan sát, kính ngắm bắn ngày đêm cho bộ binh; trang bị thông tin liên lạc công nghệ cao; hệ thống tác chiến điện tử hiện đại tích hợp trên các xe chuyên dụng cơ động cao; các phương tiện bay không người lái (UAV) trinh sát và chiến đấu; hệ thống tự động hóa chỉ huy và mô phỏng huấn luyện.
Vật tư kỹ thuật đặc chủng: Đã tự chủ sản xuất lưới ngụy trang, mô hình nghi binh nghi trang, phao chở quân; lốp pháo, phụ tùng cơ khí dã chiến; đặc biệt là các loại hợp kim đồng, hợp kim nhôm phục vụ sản xuất đạn dược, thép đặc chủng làm nòng súng bộ binh và súng chống tăng.
Bên cạnh những thuận lợi như trên, hành trình đi đến tự chủ chiến lược toàn vẹn của CNQP Việt Nam phải đối mặt với những thách thức vô cùng gay gắt:
Sức ép từ sự phát triển như vũ bão của công nghệ thế giới: Khoảng cách về nền tảng khoa học - công nghiệp cơ bản giữa nước ta và các cường quốc quân sự vẫn còn khoảng cách lớn. Khi các nước đã tiến sang giai đoạn vũ khí năng lượng định hướng, robot chiến đấu thông minh, nếu chúng ta không có chiến lược "đi tắt đón đầu" đúng đắn, nguy cơ bị tụt hậu và bị áp chế công nghệ là hiện hữu.
Thách thức về nguồn cung vật tư linh kiện cao cấp ngách: Dù tỷ lệ nội địa hóa đã tăng lên, nhưng một số linh kiện bán dẫn, chip vi xử lý tốc độ cao, nguyên liệu đặc chủng trong mạch điện tử của vũ khí thông minh vẫn phải phụ thuộc vào chuỗi cung ứng nước ngoài. Việc tìm kiếm nguồn thay thế hoặc tự chủ sản xuất các chi tiết này đòi hỏi đầu tư tài chính và công nghệ cực lớn.
Khó khăn trong thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao: Cơ chế quản lý hành chính, tiền lương trong khu vực nhà nước và quân đội truyền thống đôi khi chưa đủ linh hoạt, chưa tạo được sức hút mạnh mẽ đối với các chuyên gia, tổng công trình sư hàng đầu thế giới hoặc các tài năng công nghệ xuất sắc ngoài quân đội khi có sự cạnh tranh gay gắt về thu nhập từ khối doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài.
6 giải pháp chiến lược
Để đưa tầm nhìn đột phá của Nghị quyết Đại hội XIV vào cuộc sống thực tiễn, tạo bước chuyển đổi về chất cho nền CNQP Việt Nam, cần triển khai đồng bộ, quyết liệt hệ thống 6 giải pháp chiến lược, trọng điểm dưới đây:
Một là, hoàn thiện thể chế, khẩn trương đưa các Nghị quyết và Luật Công nghiệp quốc phòng vào cuộc sống
Thể chế chính là chìa khóa mở đường, giải phóng mọi năng lực sản xuất sáng tạo. Trọng tâm cốt lõi trong thời gian tới là khẩn trương triển khai thực hiện triệt để, đồng bộ hệ thống các nghị quyết chiến lược của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Cụ thể là Nghị quyết Đại hội XIV, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, Nghị quyết số 08-NQ/TW và đặc biệt là hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp. Các văn bản này phải cụ thể hóa được các cơ chế đặc thù, vượt trội:
-Cơ chế quản lý khoa học đặc thù: Chuyển từ cơ chế quản lý hành chính sang cơ chế khoán sản phẩm đến cùng; chấp nhận rủi ro, cho phép xác suất thất bại trong nghiên cứu khoa học quân sự công nghệ cao, công nghệ đỉnh cao. Không thể dùng tư duy hành chính để quản lý tư duy sáng tạo của các nhà khoa học.
-Cơ chế tài chính thông thoáng: Cho phép lập các quỹ đầu tư mạo hiểm dành riêng cho nghiên cứu quốc phòng; đơn giản hóa quy trình thủ tục thanh quyết toán các đề tài nghiên cứu chế tạo thử nghiệm vũ khí chiến lược. Áp dụng chính sách mua sắm công ưu tiên, đặt hàng dài hạn đối với các sản phẩm quốc phòng do trong nước nghiên cứu, chế tạo nhằm bảo đảm nguồn thu ổn định để tái đầu tư cho doanh nghiệp quốc phòng.
 |
| Tổ hợp tên lửa Trường Sơn do Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) tự chủ nghiên cứu, sản xuất. |
Hai là, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi đỉnh cao
Tập trung mọi nguồn lực đầu tư quốc gia để đi tắt đón đầu vào các hướng công nghệ then chốt của Cách mạng công nghiệp 4.0. Không dàn trải, phân tán nguồn lực mà đầu tư trọng điểm vào các lĩnh vực mũi nhọn như: công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, công nghệ bán dẫn, thiết kế vi mạch, vật liệu mới (composite, hợp kim siêu nhẹ, vật liệu hấp thụ sóng ra đa phục vụ tàng hình).
Kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương thức “nhận chuyển giao công nghệ từ nước ngoài thông qua các hợp đồng mua sắm trang bị” với phương thức “tự nghiên cứu, phát triển độc lập (R&D)”. Trong các hợp đồng mua sắm vũ khí với đối tác nước ngoài, phải ràng buộc điều khoản chuyển giao công nghệ sửa chữa lớn, công nghệ sản xuất linh kiện thay thế, tiến tới làm chủ hoàn toàn công nghệ chế tạo tại Việt Nam.
Ba là, thực hiện chiến lược đột phá về nguồn nhân lực, trọng dụng "hiền tài quốc phòng"
Nhân lực là nhân tố quyết định thành bại của chiến lược tự chủ. Đúng như chỉ đạo mang tính định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc phải thu hút bằng được các chuyên gia hàng đầu thế giới về Việt Nam làm việc, Đảng ủy Tập đoàn Viettel và Tổng cục CNQP cần tiên phong xây dựng các cơ chế lương, thưởng đặc thù vượt trội.
Cần áp dụng mức thu nhập mang tính cạnh tranh sòng phẳng với thị trường lao động toàn cầu. Đối với các vị trí đòi hỏi chuyên môn cao, kỹ sư thiết kế R&D, mức lương phải cao hơn 75% so với mặt bằng chung của doanh nghiệp trên thị trường. Đặc biệt, đối với các vị trí chuyên gia cao cấp, tổng công trình sư dẫn dắt các dự án vũ khí chiến lược, mức lương phải cao hơn 95% các tập đoàn khác, thậm chí sẵn sàng chi trả mức thu nhập cao hơn cả lương của Tổng giám đốc Tập đoàn để thu hút trí thức kiều bào, nhà khoa học xuất sắc ở nước ngoài về cống hiến cho sự nghiệp "Đại Nghĩa" của dân tộc. Đồng thời, cần xây dựng một môi trường làm việc học thuật hiện đại, dân chủ, giao quyền chủ động tối đa cho các nhóm nghiên cứu mạnh để họ tự do phát huy tài năng sáng tạo.
Bốn là, phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của nền công nghiệp quốc gia, đẩy mạnh phát triển lưỡng dụng
Xây dựng nền CNQP theo hướng lưỡng dụng vững chắc. Các nhà máy đóng tàu quân sự phải có năng lực lưỡng dụng cao, sẵn sàng đóng các loại tàu hàng, tàu chuyên dụng cao cấp phục vụ kinh tế dân sinh và xuất khẩu quốc tế. Các viện nghiên cứu điện tử, viễn thông quân sự phải chủ động thương mại hóa các thành tựu khoa học độc quyền, đưa các sản phẩm như thiết bị đo lường công nghiệp, thiết bị y tế kỹ thuật số cao cấp, phần mềm bảo mật thông tin an ninh mạng vào thị trường dân sự nhằm tạo nguồn doanh thu lớn nuôi sống bộ máy nghiên cứu quốc phòng lâu dài.
Mặt khác, các chính sách phát triển công nghiệp quốc gia cần tiếp tục khuyến khích, mở cửa cho các thành phần kinh tế ngoài quân đội, đặc biệt là các tập đoàn tư nhân lớn có tiềm lực công nghệ mạnh tham gia sâu vào mạng lưới công nghiệp phụ trợ cho quốc phòng. Đầu tư vào công nghiệp phụ trợ, giao sản xuất các chi tiết cơ khí chính xác, bo mạch ngoại vi cho khối dân sự sản xuất dưới sự giám sát chất lượng nghiêm ngặt của KCS quân đội, giúp tối ưu hóa chi phí và giải phóng năng lực cho các nhà máy quốc phòng tập trung vào khâu tích hợp hệ thống và chế tạo vũ khí cốt lõi.
Năm là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, ngoại giao quốc phòng thực chất và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu
Tự chủ chiến lược không có nghĩa là cô lập, mà là chủ động chọn lựa đối tác để hợp tác trên thế bình đẳng, cùng có lợi. Cần đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực CNQP, tận dụng tối đa mối quan hệ Đối tác chiến lược, Đối tác chiến lược toàn diện với các cường quốc công nghệ trên thế giới để thúc đẩy hợp tác nghiên cứu chung, chuyển giao công nghệ lưỡng dụng.
Khi tham gia vào thị trường quốc tế, chúng ta không nhất thiết phải chế tạo toàn bộ hệ thống ngay từ đầu; có thể chọn phương án khôn ngoan là trở thành nhà cung cấp linh kiện phụ trợ ngách có chất lượng cao cho các tập đoàn quốc phòng hàng đầu thế giới. Việc tham gia sản xuất các linh kiện phụ trợ máy bay, bo mạch viễn thông vệ tinh sẽ giúp đội ngũ kỹ sư Việt Nam cọ xát, làm quen với quy trình quản lý chất lượng khắt khe nhất thế giới. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại, thực hiện ngoại giao quốc phòng để xuất khẩu các sản phẩm quốc phòng thế mạnh mang nhãn hiệu “Make in Vietnam” sang các thị trường tiềm năng. Xuất khẩu vũ khí không chỉ mang lại nguồn ngoại tệ lớn mà quan trọng hơn, đó là thước đo khách quan, chính xác nhất khẳng định trình độ, chất lượng và vị thế của nền CNQP một quốc gia trên trường quốc tế.
Sáu là, phát huy nhân tố tiềm lực chính trị tinh thần, xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc
Sức mạnh của vũ khí suy cho cùng chỉ được phát huy tối đa khi nó nằm trong tay những con người có lòng yêu nước nồng nàn, có bản lĩnh chính trị vững vàng và ý chí quyết chiến, quyết thắng. Do đó, song song với việc phát triển hạ tầng kỹ thuật CNQP, phải đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng tiềm lực chính trị tinh thần cho đội ngũ cán bộ, kỹ sư, công nhân quân giới và toàn thể lực lượng vũ trang.
Giáo dục sâu sắc truyền thống vẻ vang của ngành Quân giới Việt Nam, khơi dậy lòng tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng tự lực, tự cường. Đồng thời, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, phát huy mạnh mẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cho mỗi người dân đều ý thức được trách nhiệm tham gia bảo vệ Tổ quốc, sẵn sàng động viên công nghiệp dân sinh khi đất nước chuyển sang trạng thái chiến tranh. Đó chính là bức tường thành kiên cố nhất bảo đảm cho sự tự chủ chiến lược quốc phòng của quốc gia.
Thay cho lời kết
Tự chủ chiến lược về công nghiệp quốc phòng là quan điểm nhất quán, là tầm nhìn có tính đột phá biểu thị sự phát triển về tư duy lý luận quân sự của Đảng ta tại Đại hội XIV. Quyết sách này là câu trả lời mang tính thời đại trước những thách thức phức tạp của địa chính trị toàn cầu, đồng thời là lời khẳng định đanh thép về ý chí độc lập, tự chủ độc lập của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình.
Xây dựng một nền CNQP Việt Nam tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại là một hành trình đầy gian khổ, đòi hỏi nguồn lực đầu tư khổng lồ và sự kiên trì chiến lược, nhưng đó là con đường tất yếu để bảo đảm nền hòa bình bền vững cho dân tộc. Nếu như hơn hai nghìn năm trước, ông cha ta đã từng có “nỏ thần” Liên Châu khiến kẻ thù khiếp sợ, thì ngày nay, trong thời đại mới, “nỏ thần” của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa chính là sự kết hợp biện chứng giữa thể chế thông thoáng, nguồn lực đầu tư dồi dào, công nghệ nền, công nghệ lõi tự chủ và nguồn nhân lực chất lượng cao mang dấu ấn trí tuệ Việt Nam.
Quán triệt và triển khai thực hiện hiệu quả tầm nhìn đột phá của Nghị quyết Đại hội XIV vào cuộc sống chính là trách nhiệm thiêng liêng của toàn Đảng, toàn quân, của các nhà khoa học quân sự và toàn thể nhân dân. Bằng ý chí, nghị lực và khát vọng tự chủ mãnh liệt, chúng ta hoàn toàn có quyền tin tưởng rằng nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam sẽ cất cánh mạnh mẽ, chế tạo nên những dòng vũ khí hiện đại mang đậm dấu ấn Việt Nam, trở thành điểm tựa vững chắc để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa, góp phần đưa đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường.