QĐND Online - “Đã gần 36 năm rồi, đất nước đã có nhiều đổi thay nhưng ký ức về một thời khói lửa chiến tranh trong thế hệ những người lính chúng tôi vẫn vẹn nguyên. Tự hào lắm, vinh quang lắm!”- ông Tạ Duy Sản, nguyên là cán bộ của Trung đoàn 28 (Sư đoàn 10, Quân đoàn 3), trực tiếp tham gia chiến đấu trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tâm sự với chúng tôi như vậy...

Năm nay vừa tròn 65 tuổi, tóc bạc trắng nhưng ông Tạ Duy Sản còn mạnh khoẻ, nhanh nhẹn, khẩu khí mạch lạc, đậm chất lính ngày nào. Hiện ông là Chủ tịch Hội CCB phường Tân Thịnh, thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình. Biết chúng tôi muốn nghe chuyện ông đánh trận ngày nào, ông mời thêm một số hội viên CCB trong hội của mình đến hàn huyên. Pha xong ấm chè xanh, ông bắt đầu câu chuyện với chúng tôi:

- Nhập ngũ đầu năm 1966, tôi về huấn luyện tập trung ở tỉnh Hà Bắc (cũ) được 6 tháng thì nhận lệnh hành quân vào chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Tháng 7 năm 1968, đơn vị tôi chốt ở cao điểm 710, thuộc dãy Động Tri, Bắc Đường 9 Nam Lào. Chỉ có 2 khẩu 12,7mm mà trong 3 ngày đơn vị tôi bắn rơi 7 máy bay trực thăng của địch khi chúng đổ quân xuống cao điểm. Khi chúng tiến hành dọn bãi thì chúng tôi nguỵ trang kín đáo, bảo đảm bí mật tuyệt đối. Đến lúc chúng bắt đầu đổ bộ thì chúng tôi triển khai bắn tiêu diệt. Những tiếng nổ xé trời như chớp sáng khiến địch bị hạ như ngả rạ nên chúng không dám đổ bộ nữa. Anh em trong đơn vị sau đó đã ứng khẩu thành thơ “Ba ngày bắn bảy máy bay/ Bắn rơi tại chỗ lăn quay giữa đồi”, đọc lên ai cũng cười. Vui lắm, khích lệ lắm!

Ông Tạ Duy Sản (người ngồi giữa) kể chuyện tấn công Bộ Tổng tham mưu ngụy

Rồi ông lại cười, cười thật to, nét mặt rạng rỡ hẳn lên. Nâng chén chè, ngụm một chút, ông kể tiếp:

- Tháng 12 năm 1968, tôi được tham gia chiến đấu ở Tây Nguyên, trong đội hình của Trung đoàn 28, trực thuộc mặt trận B3. Trong chiến dịch Tây Nguyên, đơn vị tôi có nhiệm vụ đánh đồn, bảo vệ vòng ngoài thị xã Buôn Ma Thuột. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Trung đoàn 28 và Trung đoàn 24 (Sư đoàn 10, Quân đoàn 3) được giao nhiệm vụ đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và dinh Bộ Tổng Tham mưu ngụy.

Sáng 30-4-1975, đơn vị của ông Tạ Duy Sản nhận lệnh vượt cầu Bống bắc qua sông Sài Gòn. Tuy nhiên, chỉ mới cơ động được 2 xe tăng qua thì cầu sập nên bộ đội công binh phải nhanh chóng khắc phục bằng cách bắc cầu phao để bộ đội vượt sông. Đến khoảng 10 giờ trưa thì đơn vị của ông Sản cơ động đến đường Võ Tánh và Lăng Cha Cả. Địch chống trả quyết liệt bằng xe tăng M41 để cản đường. Tạ Duy Sản-khi đó là Đại đội phó-đã lệnh cho chiến sĩ trong đơn vị dùng súng máy 12,7mm tiêu diệt hoả điểm của địch ở trên các nhà cao tầng, yểm trợ cho bộ binh của ta tiến vào.

- Hơn 11 giờ thì Đại đội 10 (Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 28) đã cắm cờ ở trên nóc dinh Bộ Tổng Tham mưu nguỵ. Vừa lúc đó lại được nghe thông báo là quân ta đã cắm được cờ trên nóc Dinh Độc Lập. Chao ôi! Anh em toàn đơn vị sung sướng lắm, cứ ôm lấy nhau mà reo hò. Lệnh của cấp trên yêu cầu toàn đơn vị ai đang ở vị trí nào thì chốt luôn, cảnh giới không được rời vị trí.

 Kể đến đây, nét mặt ông bỗng nhiên chùng hẳn xuống. Có lẽ ông đang xúc động vì nhớ đến hình ảnh những người đồng đội trẻ trung, xông pha, dũng cảm đã ngã xuống, khi mà chỉ còn ít phút nữa là đến giờ toàn thắng.

Ông Sản bồi hồi kể tiếp:

- Người trước ngã, người sau vẫn xông lên không hề nao núng, với khát vọng quyết giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Và giây phút được đón chờ suốt hơn 20 năm của cuộc kháng chiến thần thánh, được viết nên bằng chính máu xương, nước mắt, trí tuệ, và công sức của toàn dân tộc Việt Nam cũng đã đến – giây phút miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Bắc-Nam sum họp một nhà.

Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, ông Tạ Duy Sản được cử ra miền Bắc học sỹ quan, sau đó được điều về Ban CHQS thị xã Hoà Bình công tác, rồi giữ đến chức Phó chỉ huy trưởng về chính trị Ban CHQS thị xã Hoà Bình (nay là thành phố Hoà Bình). Năm 1989 ông Sản nghỉ hưu.

Chiến tranh cũng đã lùi xa, nhưng thời khắc chiến thắng hào hùng nhất của cả dân tộc-mà ông và nhiều đồng đội được trực tiếp tham gia-vẫn còn vang mãi trong ký ức của ông như những bài ca không thể nào quên…

Bài và ảnh: Nguyễn Mạnh Dũng