Thông tư số 115/2026/TT-BQP quy định về: Xác định bí mật nhà nước, độ mật của bí mật nhà nước và ký văn bản bí mật nhà nước; gửi, nhận văn bản điện tử bí mật nhà nước; sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước; cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước cho cơ quan, tổ chức, người Việt Nam; tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước; quản lý công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong Bộ Quốc phòng và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan.

Thông tư này áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp (sau đây gọi chung là cơ quan, đơn vị) và cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng; các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan.

Theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 115/2026/TT-BQP, việc xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước phải căn cứ vào danh mục bí mật nhà nước và quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.

Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm xác định bí mật nhà nước, độ mật của bí mật nhà nước và phạm vi lưu hành của bí mật nhà nước.

Trường hợp sử dụng bí mật nhà nước của cơ quan, tổ chức khác thì phải xác định độ mật tương ứng theo danh mục bí mật nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực được Thủ tướng Chính phủ quyết định. Trường hợp thông tin trong cùng một tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước thuộc danh mục bí mật nhà nước có độ mật khác nhau thì xác định theo độ mật cao nhất.

Độ mật của bí mật nhà nước được thể hiện bằng dấu chỉ độ mật, văn bản xác định độ mật hoặc hình thức phù hợp khác.

Thí sinh tham gia Hội thao nghiệp vụ công tác văn thư, bảo mật, lưu trữ lần thứ I, năm 2026 do Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật tổ chức. Ảnh minh họa: qdnd.vn

Trình tự, thủ tục xác định bí mật nhà nước, độ mật của bí mật nhà nước và ký văn bản bí mật nhà nước như sau:

- Người soạn thảo, tạo ra thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước phải đề xuất người có thẩm quyền xác định bí mật nhà nước, độ mật của bí mật nhà nước, thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, căn cứ đề xuất độ mật, phạm vi lưu hành, số lượng tài liệu tại tờ trình, phiếu trình, văn bản báo cáo hoặc “Văn bản xác định độ mật đối với vật, địa điểm, lời nói, hoạt động hoặc hình thức khác chứa bí mật nhà nước” và có trách nhiệm bảo vệ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước trong quá trình soạn thảo, tạo ra;

- Trường hợp người soạn thảo, tạo ra thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước đồng thời là người có thẩm quyền quy định thì khi soạn thảo, tạo ra thông tin, có trách nhiệm căn cứ danh mục bí mật nhà nước để xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước;

- Đối với văn bản có tính chất lặp đi lặp lại có cùng một loại thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước thì người soạn thảo, tạo ra thông tin xác định độ mật để người có thẩm quyền quyết định không phải đề xuất bằng tờ trình, phiếu trình, văn bản báo cáo; vị trí dự kiến độ mật nằm phía dưới dòng “Lưu” tại ô 13 (Phụ lục I Thông tư này) sát lề trái, viết tắt là TuM, TM, M (tương ứng với độ “Tuyệt mật”, “Tối mật”, “Mật”), cỡ chữ 13, kiểu chữ đứng đậm;

- Tài liệu bí mật nhà nước (gồm cả bản gốc, bản chính, dự thảo văn bản) phải đóng dấu chỉ độ mật, dấu “Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước” (nếu có); thể hiện phạm vi lưu hành, số lượng tài liệu, tên người soạn thảo ở mục nơi nhận của tài liệu;

- Trường hợp văn bản điện tử bí mật nhà nước (trừ văn bản điện tử bí mật nhà nước được số hóa), dự thảo văn bản điện tử bí mật nhà nước thì thủ tục xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước thực hiện theo quy định tại các điểm nêu trên và tạo dấu chỉ độ mật màu đỏ, dấu thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước màu đỏ (nếu có) trên văn bản, thực hiện theo quy định tại Mẫu số 2 Phụ lục II ban hành kèm theo thông tư này;

- Người có thẩm quyền ký văn bản bí mật nhà nước thực hiện theo quy định tại quy chế công tác văn thư trong Bộ Quốc phòng và chức năng trên Hệ thống quản lý văn bản và điều hành;

- Tài liệu bí mật nhà nước chỉ ban hành, phát hành đúng số lượng; người soạn thảo, tạo ra bí mật nhà nước có trách nhiệm hủy bỏ bản dư thừa, bản hỏng, bảo đảm không thể khôi phục.

Trường hợp xác định sai bí mật nhà nước, xác định sai độ mật của bí mật nhà nước được quy định như sau:

- Cơ quan, đơn vị xác định sai bí mật nhà nước phải có văn bản thu hồi hoặc văn bản đính chính về bí mật nhà nước, độ mật của bí mật nhà nước đã xác định sai;

- Cơ quan, đơn vị và cá nhân nhận được văn bản đề nghị thu hồi tài liệu bí mật nhà nước có trách nhiệm gửi lại tài liệu bí mật nhà nước đã tiếp nhận cho cơ quan, đơn vị xác định. Trường hợp thu hồi văn bản điện tử bí mật nhà nước được thực hiện bằng chức năng của Hệ thống quản lý văn bản và điều hành, cơ quan, đơn vị nhận có trách nhiệm hủy bỏ toàn bộ văn bản điện tử bí mật nhà nước đang lưu giữ theo quy định;

- Cơ quan, đơn vị nhận được văn bản đính chính về bí mật nhà nước, độ mật của bí mật nhà nước có trách nhiệm thông báo bằng văn bản hoặc hình thức phù hợp đến cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan.

Mẫu dấu chỉ độ mật; mẫu “Văn bản xác định độ mật đối với vật, địa điểm, lời nói, hoạt động hoặc hình thức khác chứa bí mật nhà nước”; mẫu dấu “Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước” thực hiện theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo thông tư này.

Báo Quân đội nhân dân sẽ tiếp tục thông tin về quy định mới này.