Màu sắc, dấu hiệu nhận biết
Màu sắc, dấu hiệu nhận biết vũ khí trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ của lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc được quy định tại Điều 15, 16 Nghị định số 01/2026/NĐ-CP của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 1-1-2026.
Theo đó, các dấu hiệu nhận biết cụ thể như sau:
- Vũ khí trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ của lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc khi thực hiện nhiệm vụ tại Phái bộ được dán hoặc sơn chữ “UN” màu đen (đối với lực lượng vũ trang), màu xanh da trời (đối với lực lượng dân sự).
- Đối với vũ khí trang bị kỹ thuật: Chữ “UN” có kích cỡ thống nhất, phù hợp với kích cỡ thực tế của từng loại trang bị cụ thể; được dán hoặc sơn ở vị trí phù hợp, dễ nhận biết.
- Đối với phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ: Chữ “UN” có kích cỡ thống nhất đối với mỗi loại phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, tối thiểu là 30cm chiều rộng và 45cm chiều cao; được dán hoặc sơn ở phía trước, phía sau, hai bên, bên trên và phía dưới đối với phương tiện bay.
- Phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ mang biển số và cờ hiệu của Liên hợp quốc.
 |
| Đội Công binh số 4 Việt Nam triển khai phương tiện nâng cấp hai tuyến trọng điểm Banton-nút giao Anthony và Banton-Angok tại Abyei. Ảnh: qdnd.vn |
Màu sắc vũ khí trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ của lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc được quy định như sau:
- Vũ khí trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ của lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc khi thực hiện nhiệm vụ tại Phái bộ được sơn màu trắng.
- Không sơn, dán quốc kỳ hoặc dấu hiệu nhận biết quốc gia trên vũ khí trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ.
- Việc sơn màu sắc và gắn dấu hiệu nhận biết được thực hiện trước khi triển khai tới Phái bộ.
Rút lực lượng trong những trường hợp khẩn cấp nào?
Đối với lực lượng vũ trang, khoản 2 và 3, Điều 6 Nghị định số 01/2026/NĐ-CP quy định rút lực lượng trong trường hợp khẩn cấp trong các trường hợp sau:
- Khi có đề nghị của Liên hợp quốc hoặc căn cứ tình hình thực tiễn, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định rút lực lượng thuộc phạm vi quản lý của mình;
- Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Công an báo cáo Hội đồng Quốc phòng và An ninh về việc rút lực lượng khẩn cấp trong vòng 7 ngày làm việc kể từ thời điểm có quyết định. Hồ sơ bao gồm: Báo cáo về việc rút lực lượng khẩn cấp kèm theo Quyết định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; văn bản đề nghị của Liên hợp quốc hoặc báo cáo đề xuất của Chỉ huy trưởng lực lượng Việt Nam tại Phái bộ; các tài liệu khác (nếu có).
 |
| Tư lệnh Phái bộ UNISFA thăm Đội Công binh số 4 Việt Nam. Ảnh: qdnd.vn |
Rút toàn bộ lực lượng Việt Nam tại một Phái bộ trong trường hợp khẩn cấp:
- Khi có đề nghị của Liên hợp quốc hoặc căn cứ tình hình thực tiễn, Bộ trưởng Bộ chủ quản của Chỉ huy trưởng lực lượng Việt Nam tại Phái bộ thống nhất với người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh liên quan quyết định rút lực lượng;
- Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh liên quan báo cáo Hội đồng Quốc phòng và An ninh (đối với lực lượng vũ trang), Thủ tướng Chính phủ (đối với lực lượng dân sự) trong vòng 7 ngày làm việc kể từ thời điểm có quyết định. Hồ sơ bao gồm: Báo cáo về việc rút lực lượng khẩn cấp kèm theo Quyết định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; văn bản đề nghị của Liên hợp quốc hoặc báo cáo đề xuất của Chỉ huy trưởng lực lượng Việt Nam tại Phái bộ; các tài liệu khác (nếu có).
Đối với lực lượng dân sự, việc rút lực lượng trong trường hợp khẩn cấp được quy định tại khoản 2 và 3, Điều 8 Nghị định số 01/2026/NĐ-CP. Cụ thể như sau:
- Khi có đề nghị của Liên hợp quốc hoặc căn cứ tình hình thực tiễn, người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh quyết định rút lực lượng thuộc phạm vi quản lý của mình;
- Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh liên quan báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc rút lực lượng khẩn cấp trong vòng 7 ngày làm việc kể từ thời điểm có quyết định. Hồ sơ bao gồm: Báo cáo về việc rút lực lượng khẩn cấp kèm theo Quyết định của bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh liên quan; văn bản đề nghị của Liên hợp quốc (nếu có); tài liệu khác (nếu có).
Việc rút toàn bộ lực lượng Việt Nam tại một Phái bộ trong trường hợp khẩn cấp thực hiện theo khoản 3 Điều 6 Nghị định này.