Phóng viên (PV): Được biết, thời gian qua, ngành quân nhu Quân khu 3 đã thực hiện có hiệu quả Đề án “Đổi mới phương thức tạo nguồn lương thực thực phẩm (LTTP) và chất đốt”, đồng chí cho biết đôi nét về nội dung này?

leftcenterrightdel

Lãnh đạo Quân khu 3 kiểm tra việc trồng rau xanh trên đảo Cô Tô (Lữ đoàn 242). Ảnh: Công Phúc.


Đại tá Vũ Văn Trà: Từ năm 2013, Phòng Quân nhu đã đề xuất với Đảng ủy, chỉ huy Cục Hậu cần quân khu và được thủ trưởng Bộ tư lệnh Quân khu 3 cho phép xây dựng, triển khai thí điểm Đề án “Đổi mới phương thức tạo nguồn LTTP và chất đốt” tại Trung đoàn 2, Trung đoàn 8 (Sư đoàn 395) và Lữ đoàn 405, Lữ đoàn 454. Sau thời gian thử nghiệm, Cục Hậu cần thực hiện chào hàng cạnh tranh và ký hợp đồng khung 6 tháng/lần, các đơn vị trực tiếp ký hợp đồng khai thác với doanh nghiệp 1 tháng/lần.

Đến nay, hoạt động của đề án đã đi vào nền nếp, chất lượng, hiệu quả nuôi dưỡng bộ đội được cải thiện rõ rệt như với gạo tẻ và nước mắm: 6 tháng/lần, quân khu phát hồ sơ, thông báo chào hàng cạnh tranh trên các phương tiện thông tin đại chúng. Những doanh nghiệp chuyên sản xuất, chế biến, kinh doanh lương thực, nước mắm đạt tiêu chuẩn sẽ được quân khu lựa chọn và ký hợp đồng khung (hợp đồng nguyên tắc)...

PV: Bước đầu đề án đã mang lại hiệu quả thiết thực gì thưa đồng chí?

Đại tá Vũ Văn Trà: Hiện nay, gạo cung cấp cho các bếp ăn trong toàn Quân khu 3 đều đạt tiêu chuẩn Việt Nam, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm (VSATTP). Đối với nước mắm, các đơn vị đều sử dụng loại mắm chắt, bảo đảm VSATTP, không có hóa chất, mùi vị đặc trưng, có độ đạm cao từ 18-21%. Kết quả từ khi thử nghiệm đến nay, tiền gạo mua theo đề án giảm gần 3 tỷ đồng so với giá trần khai thác theo quy định tại Thông tư 186/TT-BQP ngày 16-3-2013 của Bộ Quốc phòng và giảm 2,67 tỷ đồng so với giá khai thác trên thị trường tự do. Tương tự, tiền mua nước mắm cũng giảm tương ứng là 0,4 tỷ đồng và 3,12 tỷ đồng. Số tiền giảm bình quân đạt 1.164 đồng người/ngày được đưa vào chi ăn hằng ngày cho bộ đội...

PV: Bên cạnh việc tạo nguồn LTTP thì việc bảo đảm nguồn chất đốt, ngành quân nhu Quân khu 3 đã thực hiện như thế nào?

Đại tá Vũ Văn Trà: Với Quân khu 3, hiện nay đang tổ chức 393 bếp ăn, trong đó có 202 bếp đã lắp đặt bếp lò hơi cơ khí, đạt 100% các bếp có quân số ăn từ 30 người trở lên. Ngành quân nhu đã chỉ đạo các đơn vị vận hành, sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng bếp lò hơi cơ khí đúng quy trình kỹ thuật, hoạt động có hiệu quả, bảo đảm tốt việc phục vụ ăn uống cho bộ đội. Bên cạnh đó, ngành đã bảo đảm đầy đủ các loại trang thiết bị dụng cụ cấp dưỡng, trang bị nhà ăn nhà bếp, thực hiện 100% chia ăn theo định suất. Ưu tiên trang bị đầy đủ dụng cụ nhà ăn, dụng cụ nhà bếp, nhất là đối với các đơn vị huấn luyện chiến sĩ mới, các đơn vị biên giới, hải đảo.

PV: Được biết, mô hình trạm trại, vườn rau chuyên canh, tập trung... và thực hiện chương trình nạc hóa đàn lợn của ngành đã góp phần quan trọng vào thành công của Đề án "Đổi mới phương thức tạo nguồn LTTP và chất đốt", nguyên nhân của thành công này bắt nguồn từ đâu thưa đồng chí?  

Đại tá Vũ Văn Trà: Bên cạnh giải pháp đẩy mạnh mô hình trạm trại, vườn rau chuyên canh, tập trung kết hợp với tăng gia sản xuất (TGSX) quanh bếp, quanh nhà, thì ngành quân nhu quân khu còn duy trì và củng cố phát triển, quy hoạch các khu TGSX tập trung của các đơn vị theo hướng chính quy hiệu quả; từng bước áp dụng khoa học kỹ thuật, tích cực đầu tư cơ sở hạ tầng như: Làm hệ thống vườn rau nhà lưới, xây mới, nâng cấp chuồng trại, mạnh dạn đưa giống mới vào sản xuất để đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả (củ cải Hàn Quốc, các giống bầu đất, bí Thiên Thanh không cần giàn, mướp đắng, bầu sao Tre Việt, mướp hương, bí đỏ F1 Quý Phi...). Xây dựng mẫu, chỉ đạo xây dựng nhà lưới diện tích cho cấp trung (lữ) đoàn từ ngân sách năm 2016 với tổng diện tích nhà lưới toàn quân khu đạt 11.525mtổng trị giá hơn 1,7 tỷ đồng.

Còn với đề án thực hiện chương trình “Nạc hóa đàn lợn của các đơn vị trong lực lượng vũ trang quân khu”, ngành quân nhu đã chỉ đạo các đơn vị tích cực thực hiện chuyển đổi nuôi lợn nái, lợn thịt siêu nạc tự túc con giống và thịt nạc, kết hợp với đa dạng các vật nuôi khác như lợn mường, gia cầm, thủy cầm, đặc biệt là mô hình chăn nuôi vịt biển ở Sư đoàn 395 và các đơn vị đóng quân trên đảo. Đến nay, toàn quân khu bảo đảm hơn 96,5% nhu cầu rau xanh kể cả trong kỳ giáp vụ, 95% nhu cầu thịt lợn xô lọc, 80% thịt lợn nạc... Bảo đảm giá thấp hơn giá thị tr­ường 10-25%, góp phần ổn định và nâng cao đời sống cho bộ đội.

PV: Đồng chí cho biết đôi nét về phương hướng, giải pháp của ngành quân nhu Quân khu 3 trong năm 2017 này?

Đại tá Vũ Văn Trà: Bước sang năm 2017, ngành quân nhu Quân khu 3 tiếp tục kiện toàn hệ thống văn kiện, kế hoạch công tác quân nhu; duy trì nghiêm lượng dự trữ SSCĐ; chỉ đạo các đơn vị bảo đảm đầy đủ tiêu chuẩn định lượng, nhiệt lượng cho đối tượng theo quy định, cân đối các chất dinh dưỡng khoa học, hợp lý; tổ chức tăng gia sản xuất theo hướng thâm canh, đa dạng sản phẩm. Tập trung huấn luyện vận hành, bảo quản, bảo dưỡng bếp lò hơi cơ khí, chăn nuôi lợn nái siêu nạc. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Xây dựng đơn vị nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt”, phong trào “Ngành Hậu cần quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” gắn với Phong trào Thi đua Quyết thắng ở các đơn vị. 

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!

NGUYỄN HÒA (thực hiện)