Sự đoàn kết, hiệp đồng chiến đấu giữa hai lực lượng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ” ngày càng được gắn kết chặt chẽ với nhau trên những chặng đường lịch sử. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước sang thời điểm quyết định, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết, bởi lẽ: “Chiến tranh đang phát triển, tình hình cách mạng càng khẩn trương bao nhiêu thì Đảng và Nhà nước lại càng phải coi trọng việc tăng cường xây dựng, củng cố quân đội và công an bấy nhiêu. Vì quân đội và công an là lực lượng quan trọng bậc nhất của nền chuyên chính vô sản. Trong chiến tranh, Đảng cần phải nắm vững quân đội và công an để sẵn sàng chiến đấu tiêu diệt mọi kẻ địch[1].
Cuối năm 1974 đầu năm 1975, Bộ Chính trị đã họp (mở rộng) phân tích thời cơ chiến lược mới và quyết định kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976. Bộ Chính trị chỉ rõ nếu có thời cơ vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975. Sau những thắng lợi dồn dập: Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng, khí thế quyết chiến, quyết thắng của quân và dân ta dâng cao, Bộ Chính trị đã hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong tháng 4-1975. Ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị thông qua quyết tâm chiến dịch, kế hoạch tác chiến, đồng thời nhất trí với đề nghị của Bộ Tư lệnh chiến dịch lấy tên chiến dịch tiến công giải phóng Sài Gòn – Gia Định là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, yêu cầu cần thiết là phải kết hợp chặt chẽ giữa Quân đội và Công an - lực lượng vũ trang nòng cốt, nhằm góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Với phương châm “An ninh đi trước một bước”, lực lượng Công an nhân dân ngày đêm âm thầm chiến đấu chống lại mọi thủ đoạn của kẻ thù, chuẩn bị tích cực về mọi mặt cho chiến dịch giải phóng hoàn toàn miền Nam. Trong lúc này, các mũi tiến công của lực lượng giải phóng được sự hỗ trợ hiệu quả của lực lượng công an đi trước mở đường, liên tiếp đập tan mọi sự kháng cự trên khắp các hướng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tiến nhanh về trung tâm đầu não Sài Gòn.
Tại khu vực Sài Gòn - Gia Định, lực lượng an ninh các cấp đã đẩy mạnh công tác nắm tình hình, bảo vệ bí mật cho các cuộc hành quân, trú quân, nắm bắt hướng tiến công của địch. Trên cơ sở quyết tâm giải phóng miền Nam của Bộ Chính trị, Ban An ninh Sài Gòn - Gia Định đã xây dựng kế hoạch toàn diện về tiến công chiếm lĩnh mục tiêu, lập hồ sơ các đối tượng phản cách mạng nguy hiểm cần truy bắt, trừng trị. Lực lượng điệp báo, trinh sát vũ trang an ninh nội thành phối hợp với các cơ sở gấp rút điều tra, lập hồ sơ hệ thống bố phòng của quân đội Việt Nam Cộng hòa, dựng lại cơ cấu các tổ chức tình báo gián điệp, cảnh sát, hệ thống kìm kẹp và các tổ chức đảng phái phản động, lập hồ sơ phân loại các đối tượng nguy hiểm cần trấn áp, đồng thời chuẩn bị các thông báo, lệnh, thư, khẩu hiệu để phục vụ yêu cầu tiến công vào hàng ngũ của địch. Vào giờ phút cáo chung của chế độ Việt Nam Cộng hòa, các lực lượng an ninh, tình báo quân đội, binh vận, trí vận... đẩy mạnh công tác vận động quần chúng nổi dậy giành chính quyền tại chỗ, tiến công trực diện bằng chính trị, binh vận vào chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Hoạt động nổi dậy phong phú, đa dạng của quần chúng đã làm tê liệt hạ tầng cơ sở chính quyền Sài Gòn, góp phần bảo vệ các cơ sở trọng yếu, mở đường cho các cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn. Trong quá trình chuẩn bị mở chiến dịch Hồ Chí Minh, nhiều đồng chí thuộc Bộ Công an đã được điều động sang hoạt động trong các cơ quan của quân đội để vừa nắm tình hình vừa giúp cho công tác tham mưu được tổ chức chặt chẽ, cụ thể, kịp thời hơn.
Trên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ giải phóng Sài Gòn - Gia Định, lực lượng an ninh nội đô được chia thành hai bộ phận chính để tạo điều kiện cho các cánh quân chủ lực tiến vào giải phóng Sài Gòn và hỗ trợ cho hoạt động nổi dậy của quần chúng nhân dân: Cánh an ninh đô thị gồm hai cụm phối hợp với lực lượng quân đội: Một cụm có nhiệm vụ chiếm Bộ Chỉ huy Cảnh sát đô thành, một cụm tổ chức đánh chiếm Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia (Tổng nha Cảnh sát). Cánh an ninh nông thôn chia làm hai bộ phận: Một bộ phận ở lại căn cứ có nhiệm vụ giải phóng vùng nông thôn, đóng ở Củ Chi, tiến vào chiếm Ty cảnh sát Gia Định, chiếm giữ Ty chiêu hồi Thị Nghè, Ty an ninh quân đội ở Bình Hòa và tổ chức bảo vệ Tòa hành chính Gia Định. Một bộ phận áp sát vào Sài Gòn, chia làm hai mũi: Một mũi đánh chiếm Ty cảnh sát quận 11, một mũi đánh chiếm Ty chiêu hồi quận 3.
Đối với công tác chuẩn bị tiếp quản sau giải phóng, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã Chỉ thị số 219-CT/TW ngày 19-4-1975 “Về chính sách đối với ngụy quân, ngụy quyền và về công tác đấu tranh chống bọn phản cách mạng, giữ gìn trật tự an ninh ở những vùng mới giải phóng”, bên cạnh những biện pháp chủ yếu, Chỉ thị đã nhấn mạnh: “Cần kịp thời nghiên cứu phân loại các loại đối tượng trong ngụy quân, ngụy quyền, cảnh sát, tình báo, chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, bình định và đảng phái phản động và thực hiện các biện pháp giáo dục cải tạo từng loại đối tượng, nhằm làm tan rã hàng ngũ kẻ địch về mặt tổ chức, chính trị và tư tưởng”[2]. Theo đó, Ban An ninh đã tăng cường hoạt động chỉ đạo in ấn các thông báo, tài liệu, phục vụ cho việc đăng ký, trình báo, trình diện cho các đối tượng, quản lý an ninh, trật tự ở thành phố, vùng mới giải phóng; kế hoạch đăng ký, bảo vệ người nước ngoài. Bên cạnh đó, lãnh đạo Bộ Công an đã cử một đoàn công tác đặc biệt do Thứ trưởng Viễn Chi làm Trưởng đoàn, cấp tốc vào cơ quan An ninh Trung ương Cục để trao đổi kinh nghiệm của An ninh Huế, Đà Nẵng tham gia chiếm lĩnh và tiếp quản đô thị. Bộ Công an đã huy động hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ tăng cường cho An ninh miền Nam; tổ chức nghiên cứu các phương án tấn công, chiếm lĩnh các mục tiêu quan trọng, đề xuất kế hoạch đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng, quản lý an ninh trật tự vùng mới được giải phóng.
Ngày 26-4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức bắt đầu, các mũi tiến công hình thành thế bao vây Sài Gòn từ 5 hướng: Hướng Tây Bắc - Quân đoàn 3; hướng Bắc - Quân đoàn 1; hướng Đông Nam - Quân đoàn 2; hướng Đông - Quân đoàn 4; hướng Tây và Tây Nam - Đoàn 232 và Sư đoàn 8 (Quân khu 8). Phối hợp với cơ sở nội tuyến, quân giải phóng tiến hành đột phá tuyến phòng thủ vòng ngoài, đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng như Long Thành, Trảng Bom, Nhơn Trạch, Bà Rịa...; cắt đứt hoàn toàn Đường số 4 từ Sài Gòn đi các tỉnh miền Tây; chế áp, làm tê liệt các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất. Nhờ vào sự chuẩn bị đầy đủ, nhanh chóng về mọi mặt, quân đội cùng với công an đã phối hợp nhịp nhàng với các lực lượng quần chúng liên tiếp tiến công địch trên khắp các mặt trận quân sự, chính trị, binh vận, làm lung lay tận gốc toàn bộ hệ thống chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Ngày 29-4, các tập đoàn phòng ngự chủ yếu của địch ở vòng ngoài và vùng ven đã bị tiêu diệt, mở thông đường vào trung tâm thành phố Sài Gòn – Gia Định. Cùng với đòn tiến công quân sự, các tầng lớp nhân dân trong thành phố Sài Gòn – Gia Định dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ đảng, có lực lượng quân đội và công an làm nòng cốt đã phát động quần chúng nổi dậy dưới nhiều hình thức như bao vây, kêu gọi, bức hàng, bức rút đồn bốt, địch vận, chiếm giữ các công sở, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, tạo áp lực buộc quân đội, chính quyền Sài Gòn đầu hàng. Bên cạnh đó, an ninh nội đô đã tìm cách vận động cán bộ, viên chức chính quyền Sài Gòn bảo quản tài liệu, cơ sở vật chất, treo cờ cách mạng, chờ lực lượng giải phóng vào tiếp quản. Sáng ngày 30-4-1975, các cánh quân giải phóng từ 5 hướng đồng loạt tiến công vào nội đô, lực lượng An ninh Sài Gòn – Gia Định đã nhanh chóng có mặt, tích cực làm nhiệm vụ giao liên, mở đường, chiếm giữ các mục tiêu trọng yếu, lực lượng quân đội và công an trong ngoài kết hợp đập tan mọi sự kháng cự cuối cùng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Nhờ hoạt động tích cực của lực lượng an ninh, đồng chí Triệu Quốc Mạnh, đảng viên của cánh trí vận, đã được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Cảnh sát Đô thành, và kịp thời giải toán toàn bộ lực lượng Cảnh sát Việt Nam Cộng hòa, khiến cho bộ máy kìm kẹp của chính quyền Sài Gòn nhanh chóng tan rã. Do đó, cánh quân chủ lực cùng lực lượng an ninh nội đô đã thuận lợi tiến vào chiếm giữ Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia, thu giữ kho hồ sơ, tài liệu, và cơ sở vật chất hầu như nguyên vẹn.
Chiến dịch Hồ Chí Minh (từ 26 đến 30-4-1975) kết thúc thắng lợi, lực lượng quân đội và công an phối hợp cùng thực hiện công tác tiếp quản vùng giải phóng, trấn áp và truy bắt các phần tử phản cách mạng, tăng cường giữ gìn trật tự, trị an, bảo vệ các cơ sở công cộng, các vị trí trọng yếu như nhà máy nước, điện đảm bảo cho thành phố hoạt động bình thường. Nhờ sự chuẩn bị tích cực, đầy đủ về mọi mặt, lực lượng quân đội và công an đã tham gia vận động, hướng dẫn các tầng lớp quần chúng nhân dân nhanh chóng ổn định nếp sinh hoạt thường nhật, giữ cho các cơ quan, xí nghiệp hoạt động bình thường.
Các cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân tuy không cùng màu áo, sắc phục nhưng cùng chung lý tưởng, mục đích cách mạng, do Đảng Lao động Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh rèn luyện và lãnh đạo, đã gắn kết hai lực lượng này với nhau, cùng với các tầng lớp nhân dân tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn, góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Chiến tranh qua đi, hòa bình lập lại, tình đồng đội và khát khao cống hiến trở thành sợi chỉ đỏ gắn kết “hai cánh tay của Đảng” tiếp tục phát huy bản chất, truyền thống trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đại tá, TS. NGUYỄN VĂN BẠO, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
[1] Phát biểu của đồng chí Lê Đức Thọ tại Đại hội Đảng bộ Công an nhân dân vũ trang trung ương ngày 27.9.1966. Dẫn theo: Công an và quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của chuyên chính vô sản, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang xuất bản, Hồ Chí Minh, 1976, tr.17.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 36, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.147.