Phối hợp lực lượng là yêu cầu khách quan của Tổng khởi nghĩa
Cách mạng Tháng Tám diễn ra trong điều kiện đặc biệt: Thời cơ chiến lược xuất hiện rất nhanh, kẻ thù suy yếu, chính quyền cũ rệu rã, trong khi lực lượng cách mạng còn non trẻ. Đảng đã phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, kết hợp lực lượng quần chúng với LLVT làm nòng cốt. Theo tổng kết của Bộ Quốc phòng, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám có sự đóng góp quan trọng của LLVT, bên cạnh nhân tố quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc.
Năm 1945, chưa có “Quân đội nhân dân” và “Công an nhân dân” với hệ thống hoàn chỉnh, cơ cấu tổ chức và quy mô như ngày nay; LLVT tuy chưa đông, trang bị còn hạn chế nhưng có vai trò quan trọng trong xây dựng căn cứ, bảo vệ cơ sở cách mạng, hỗ trợ quần chúng nổi dậy, trấn áp những lực lượng chống phá và tạo sức mạnh răn đe cần thiết. Lực lượng quân sự cách mạng phát triển từ các đội du kích, Cứu quốc quân, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiến tới Việt Nam Giải phóng quân; lực lượng bảo vệ an ninh, trật tự gồm các tổ chức tự vệ, trinh sát, liêm phóng và các tổ chức cách mạng tương ứng ở từng địa phương. Chính sự phối hợp giữa các lực lượng này đã góp phần quan trọng để Tổng khởi nghĩa thành công, bảo vệ thành quả khởi nghĩa.
 |
Lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân tại Lễ mít tinh, diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945 / 2-9-2025). Ảnh: THẾ ĐẠI
|
Sau khi giành được chính quyền, công tác bảo vệ an ninh, bí mật, cơ sở, cán bộ và giữ gìn trật tự trở thành yêu cầu cấp thiết. Các tổ chức Công an cách mạng đầu tiên được hình thành ở 3 miền, trong đó có Sở Liêm phóng Bắc Bộ, Sở Trinh sát Trung Bộ và Quốc gia tự vệ cuộc Nam Bộ.
Như vậy, phối hợp quân sự, an ninh không phải là sự ghép nối cơ học giữa hai lực lượng, mà bắt nguồn từ một yêu cầu chiến lược: Muốn giành chính quyền phải có lực lượng đấu tranh và bảo vệ chính quyền mới; muốn giữ vững thành quả cách mạng phải đồng thời đánh bại sự chống phá từ bên ngoài và bên trong.
Những nội dung nổi bật của sự phối hợp và bài học có ý nghĩa chiến lược
Trước hết, đó là phối hợp trong bảo vệ cơ sở cách mạng và cán bộ lãnh đạo. Trong quá trình chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, lực lượng quân sự có nhiệm vụ bảo vệ căn cứ, hỗ trợ hoạt động cách mạng và tạo thế cho quần chúng nổi dậy; các tổ chức bảo vệ an ninh chú trọng nắm tình hình, bảo vệ bí mật, phát hiện phần tử chống phá.
Thứ hai, phối hợp trong quá trình giành và giữ chính quyền. Quân sự tạo sức mạnh trực tiếp, nòng cốt cho Tổng khởi nghĩa; an ninh tạo thế chủ động về thông tin, bảo vệ tổ chức và giữ vững bên trong. Khởi nghĩa thắng lợi không đồng nghĩa với việc mọi nguy cơ đã chấm dứt. Ngay sau khi chính quyền cách mạng ra đời, nhiệm vụ bảo vệ cơ quan Đảng, chính quyền, các mục tiêu quan trọng, giữ gìn trật tự và ổn định đời sống nhân dân trở nên đặc biệt cấp thiết. Các lực lượng cách mạng phải vừa củng cố chính quyền, vừa chủ động ngăn chặn hoạt động phá hoại.
 |
| Lực lượng Quân đội, Công an thường xuyên phối hợp đấu tranh thành công các chuyên án, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự. Ảnh: ĐỨC HIẾU |
Thứ ba, phối hợp với nhân dân tạo thành thế trận rộng khắp. Đây là nét đặc sắc của cách mạng Việt Nam. LLVT không tách khỏi nhân dân mà dựa vào nhân dân, tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân. Lực lượng Công an sau Cách mạng Tháng Tám cũng sớm vận dụng quan điểm dựa vào dân, thông qua các đoàn thể cứu quốc vận động nhân dân tham gia tự vệ, góp phần bảo vệ chính quyền và những sự kiện trọng đại của đất nước.
Đặc biệt, ngay sau Cách mạng Tháng Tám, trong hoàn cảnh thù trong giặc ngoài, tình thế hiểm nguy “như ngàn cân treo sợi tóc”, sự phối hợp giữa các LLVT ấy càng quan trọng. Sau ngày độc lập, chính quyền cách mạng phải đối mặt với nhiều lực lượng chống phá và nguy cơ can thiệp từ bên ngoài. Vì vậy, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự xã hội và bảo vệ nền độc lập vừa giành được trở thành hai mặt thống nhất của một nhiệm vụ chiến lược.
Từ thực tiễn Cách mạng Tháng Tám năm 1945, có thể rút ra những bài học sâu sắc có ý nghĩa chiến lược:
Một là bài học về sự lãnh đạo thống nhất của Đảng. Phối hợp giữa các lực lượng chỉ phát huy hiệu quả khi đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, xác định rõ mục tiêu chung và nhiệm vụ của từng lực lượng.
Hai là, phối hợp phải dựa trên chức năng, nhiệm vụ và thế mạnh của từng lực lượng. Quân sự mạnh về tổ chức, huấn luyện, chiến đấu, sẵn sàng xử trí các tình huống quốc phòng; lực lượng an ninh mạnh về nắm tình hình, bảo vệ an ninh chính trị, phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động xâm phạm an ninh, trật tự. Sự bổ sung ấy tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn hơn tổng số sức mạnh riêng lẻ.
Ba là, phải chủ động từ sớm, từ xa. Cách mạng Tháng Tám thành công không chỉ nhờ hành động quyết đoán khi thời cơ xuất hiện mà còn là kết quả của quá trình chuẩn bị lâu dài về lực lượng, căn cứ, tổ chức, cán bộ và phong trào quần chúng. Đây là bài học có giá trị đặc biệt đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Bốn là, nhân dân là nền tảng, là gốc rễ. LLVT chỉ thực sự mạnh khi được nhân dân tin yêu, ủng hộ, che chở và tham gia. Sức mạnh của "thế trận lòng dân" chính là nền tảng để kết hợp quốc phòng với an ninh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại và nền an ninh nhân dân vững chắc.
Tăng cường phối hợp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới
Trong tình hình mới, yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc đặt ra ngày càng cao, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen; không gian mạng, an ninh dữ liệu, tội phạm công nghệ cao, thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, phá hoại và các tình huống phức tạp về an ninh, trật tự có thể tác động trực tiếp đến quốc phòng; ngược lại, công tác quân sự, quốc phòng tác động trực tiếp đến bảo đảm an ninh, trật tự. Mối liên hệ biện chứng quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay càng cho thấy mối quan hệ phối hợp giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có ý nghĩa chiến lược, đặt ra những yêu cầu cao hơn trong công tác phối hợp với những nội dung chủ yếu sau:
Một là, tăng cường trao đổi thông tin, đánh giá và dự báo chiến lược. Quân đội và Công an cần xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin nhanh, chính xác, có chiều sâu; phối hợp đánh giá các nguy cơ đối với độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Phải chuyển mạnh từ tư duy xử trí khi xảy ra sang tư duy chủ động nhận diện nguy cơ, phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ cơ sở.
Hai là, phối hợp chặt chẽ trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Ở từng địa bàn, nhất là biên giới, biển, đảo, địa bàn chiến lược, khu công nghiệp, đô thị lớn và không gian mạng, cần kết hợp đồng bộ các biện pháp quốc phòng, an ninh, kinh tế, đối ngoại và dân vận. Không để xuất hiện khoảng trống về quản lý, không để bị động, bất ngờ.
Ba là, nâng cao khả năng phối hợp xử trí các tình huống phức tạp. Quân đội và Công an cần thường xuyên luyện tập, diễn tập các phương án bảo vệ mục tiêu, phòng, chống khủng bố, cứu hộ-cứu nạn và phòng, chống thiên tai, bảo vệ sự kiện chính trị quan trọng và xử trí các tình huống quốc phòng, an ninh. Phối hợp phải thực chất, rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ cơ chế chỉ huy và bảo đảm thông tin thông suốt, rõ kết quả.
Bốn là, phối hợp bảo vệ vững chắc không gian mạng và an ninh quốc gia trong môi trường số. Đây là lĩnh vực mà ranh giới giữa quốc phòng và an ninh ngày càng đan xen. Cần kết hợp năng lực bảo vệ an ninh mạng, đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao với năng lực bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; đồng thời nâng cao khả năng nhận diện, ngăn chặn thông tin giả, thông tin độc hại và các hoạt động gây mất ổn định xã hội.
Năm là, xây dựng lực lượng Quân đội và Công an thực sự cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Phối hợp hiệu quả trước hết phải bắt nguồn từ bản lĩnh chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật, trình độ nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Hai lực lượng giữ vững đoàn kết, tôn trọng chức năng, nhiệm vụ của nhau, luôn chủ động phối hợp chặt chẽ để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.
Sáu là, phát huy sức mạnh của nhân dân. Kinh nghiệm Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cũng như các cuộc kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho thấy, không một lực lượng chuyên trách nào có thể thay thế sức mạnh của nhân dân. Vì vậy, phải củng cố, tăng cường "thế trận lòng dân", xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân vững mạnh, hiện đại, nâng cao chất lượng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đặc biệt, phải tạo sự đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin của nhân dân đối với LLVT.
Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay, một chân lý có giá trị xuyên suốt được khẳng định: Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tộc, trong đó Quân đội và Công an là hai lực lượng trọng yếu, nòng cốt, có quan hệ phối hợp chiến lược, mật thiết và không thể tách rời. Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, Quân đội và Công an cần phải kế thừa tinh thần chủ động phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, dựa vào nhân dân, thống nhất mục tiêu và xử lý kịp thời các nguy cơ từ sớm, từ xa; cùng cả hệ thống chính trị và toàn dân tạo thành thế trận liên hoàn, vững chắc về quốc phòng, an ninh để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và lợi ích quốc gia-dân tộc; tạo điều kiện thuận lợi để đất nước phát triển nhanh, bền vững.