Thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng, cuối năm 1967, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch tiến công ở khu vực Đường 9-Khe Sanh, nhằm nghi binh, vây hãm và giam chân tiêu hao sinh lực địch, tạo thế thuận lợi cho quân và dân ta tại các đô thị lớn, đặc biệt là ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, trực tiếp là Trị-Thiên-Huế, thực hiện cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Sau các trận Hướng Hóa, Huội San mở đầu Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh thắng lợi, cuối tháng 1-1968, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định tổ chức trận then chốt, tiến công cứ điểm Làng Vây, nhằm giải phóng đoạn Đường 9, từ quận lỵ Hướng Hóa đến biên giới (Việt-Lào), bao vây cứ điểm Tà Cơn, buộc địch phải đưa lực lương ra ứng cứu, giải tỏa, tạo thời cơ để ta tiêu diệt chúng.

Xe tăng của Binh chủng Tăng-Thiết giáp tham gia Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh. Ảnh tư liệu

Trận đánh Làng Vây được chuẩn bị chu đáo và diễn ra từ ngày 6 đến 7-2-1968. Thắng lợi của trận đánh mang ý nghĩa chiến lược, thể hiện trình độ về nghệ thuật chọn mục tiêu, tạo thế nghi binh và vận dụng cách đánh hiệp đồng binh chủng phát triển tiến công để giành thắng lợi trong Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh.

Tổ chức đánh trận then chốt đầu tiên của chiến dịch, ta chọn mục tiêu là cứ điểm Làng Vây, cách quận lỵ Hướng Hóa 8km về phía tây, thuộc tỉnh Quảng Trị. Đây là một cứ điểm mạnh bảo vệ cụm cứ điểm Tà Cơn, được xây dựng trên hai điểm cao 230 (tiền tiêu) và 320 (đồn chính, chia thành 6 khu vực với 21 lô cốt, nhiều hầm ngầm), được xây dựng kiên cố, do 4 đại đội thám báo, 1 trung đội quân Mỹ đóng giữ. Đây là khu vực rừng núi, thưa dân, có khả năng hạn chế được những điểm mạnh của địch về binh khí kỹ thuật, hỏa lực và sức cơ động. Do địch tổ chức phòng ngự thành các cứ điểm, cụm cứ điểm nên dễ bị cô lập khi bị ta tiến công bao vây, lực lượng cứu viện đường bộ dễ bị ta phục kích, đường không cũng bị giới hạn ở những khu vực nhất định. Trong khi ta lại có thể giấu quân kín đáo, cơ động thuận lợi. Trong điều kiện địch có ưu thế về pháo binh, không quân, ta vẫn có thể vận dụng cách đánh sở trường là phục kích, tập kích, vận động tiến công tiêu diệt địch. Nếu Làng Vây bị mất, quân địch ở Tà Cơn dễ ở vào thế cô lập khi bị ta bao vây và tiêu diệt. Vì vậy, ta chọn cứ điểm Làng Vây làm mục tiêu đánh trận then chốt chiến dịch là hoàn toàn có cơ sở, chính xác.

Để đánh cứ điểm Làng Vây, ta đẩy mạnh các hoạt động tạo thế, làm tốt công tác nghi binh lừa địch. Ngay sau khi giải phóng quận lỵ Hướng Hóa, địch chưa đưa lực lượng ra phản kích, ta tiếp tục tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Huội San, đẩy địch ở Làng Vây ở vào thế bị cô lập. Nắm chắc diễn biến chiến trường, ta đẩy mạnh các hoạt động chuyển hóa thế trận, tạo điều kiện nhanh chóng đưa lực lượng vào áp sát địch ở Làng Vây trên ba hướng (nam, tây và đông bắc). Trong đó, hướng nam (chủ yếu) do Tiểu đoàn 3 (Sư đoàn 325), 2 đại đội đặc công và Đại đội 9 xe tăng đảm nhiệm; hướng tây (thứ yếu) do Tiểu đoàn 5 thuộc Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304), 2 tiểu đoàn đặc công và 1 đại đội xe tăng phụ trách; hướng đông bắc (thứ yếu phối hợp), do Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304) đảm nhiệm. Công tác chuẩn bị lực lượng trên các hướng được tiến hành chu đáo, nhất là bảo đảm đường cơ động trên hai hướng nam và tây để đưa xe tăng vào vị trí tập kết. Trên hướng nam, ta lợi dụng và cải tạo lòng sông Sê Pôn, bí mật đưa xe tăng cơ động vào vị trí xuất phát tiến công. Ở hướng tây, trên trục Đường 9, công binh ta làm 9 ngầm và ngụy trang kín đáo, sẵn sàng cho xe tăng tiến vào phối hợp với bộ binh đánh địch. Tuy thời gian nổ súng thay đổi so với dự định ban đầu, nhưng bộ đội ta vẫn làm tốt công tác tổ chức tạo thế nghi binh, sử dụng lực lượng phù hợp, nhất là giữ được bí mật việc cơ động xe tăng vào vị trí tập kết, gây bất ngờ lớn đối với địch.

Thành công nổi bật của trận đánh là ta tổ chức tác chiến hiệp đồng binh chủng tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc đạt hiệu quả cao. Theo kế hoạch, 23 giờ ngày 6-2-1968, sau khi ta sử dụng pháo binh bắn chuẩn bị, các hướng đồng loạt mở cửa cho bộ binh và xe tăng lần lượt vượt qua cửa mở đánh chiếm đầu cầu, tạo thế tiến công vào Làng Vây. Đây là trận đầu tiên bộ đội ta tác chiến hiệp đồng binh chủng có xe tăng, pháo binh và pháo phòng không tham gia. Ta tổ chức đội hình tiến công hợp lý trên ba hướng, trong đó hướng chủ yếu (nam) và hướng thứ yếu (tây) có xe tăng tham gia. Quá trình chiến đấu, ta tổ chức bắn hỏa lực trước, sau đó các hướng đồng loạt dùng bộc phá mở cửa cho bộ binh và xe tăng vượt qua cửa mở đánh chiếm đầu cầu, đột phá đẩy địch vào trung tâm cứ điểm rồi tiêu diệt, làm chủ trận địa lúc 11 giờ ngày 7-2-1968. Kết quả, ta loại khỏi vòng chiến đấu 653 tên địch, thu toàn bộ vũ khí, trang bị, giải phóng phần lớn huyện Hướng Hóa với hàng nghìn dân.

Trận Làng Vây đã phát huy hiệu quả sức mạnh chiến đấu hiệp đồng binh chủng đạt hiệu quả cao. Thắng lợi của trận Làng Vây đánh dấu bước phát triển mới về chọn đúng mục tiêu, khéo tạo thế nghi binh, sử dụng lực lượng phù hợp và vận dụng linh hoạt, sáng tạo cách đánh hiệp đồng binh chủng quy mô 1 trung đoàn của ta được tăng cường binh khí kỹ thuật, tiến công vào một cứ điểm mạnh của địch phòng ngự trong công sự kiên cố. Có thế  nói, ta đã giải quyết tốt vấn đề hiệp đồng chiến đấu giữa lực lượng tiến công với hỏa lực chi viện (pháo binh) và với lực lượng mở cửa (công binh), giữa bộ binh với xe tăng, đánh dấu bước phát triển vượt bậc về hiệp đồng tác chiến binh chủng trên địa hình rừng núi của Quân đội ta. Cùng với các trận Hướng Hóa, Huội San, trận Làng Vây là trận đánh then chốt tiếp theo thắng lợi, tạo điều kiện quyết định cho chiến dịch phát triển, tiến tới kết thúc thắng lợi chiến dịch tiến công Đường 9-Khe Sanh năm 1968.

DƯƠNG ĐÌNH LẬP