Đi tắt liệu có đón đầu

QĐND Online - Do có nền tảng khoa học-công nghệ quốc phòng thấp hơn so với các quốc gia xuất khẩu, việc hợp tác chuyển giao công nghệ quốc phòng mới cũng là “gánh nặng” đối với các quốc gia nhập khẩu công nghệ. Được chuyển giao công nghệ nhưng các nước này chưa chắc đã làm chủ được công nghệ. Nói cách khác, các nước nhập khẩu có thể chỉ đơn giản phụ trách gia công và lắp ráp thành phẩm bằng các bộ phận, linh kiện nhập từ đối tác. Hiện tại, mặc dù có nhiều cố gắng trong việc tiếp nhận công nghệ đã chuyển giao từ Nga, nhưng Trung Quốc vẫn phụ thuộc vào Nga về kỹ thuật quân sự hàng không (động cơ máy bay, radar…).

Dù đã được Nga "chia sẻ" công nghệ sản xuất chiến đấu cơ Su-27SK, nhưng máy bay do Trung Quốc lắp ráp trong nước vẫn không đảm bảo bằng hàng nhập khẩu.

Mặt khác, do đặc thù của công nghệ quốc phòng luôn gắn liền với học thuyết quân sự của quốc gia sở hữu nên quốc gia được chuyển giao công nghệ quân sự có thể “phụ thuộc” hoặc phải thay đổi học thuyết quân sự của mình trong khi điều kiện địa chính trị của các quốc gia này có nhiều đặc điểm khác biệt.

Ngoài ra, nước xuất khẩu công nghệ chắc chắn sẽ luôn giữ lại “công nghệ lõi” hoặc chỉ chuyển giao công nghệ quốc phòng đã bị cắt giảm tính năng. Đây là yếu tố tất yếu để buộc các quốc gia nhập khẩu phải phụ thuộc công nghệ và là “điều kiện” để tiếp tục thực hiện các hợp đồng nâng cấp và mua vũ khí mới trong tương lai. Điều này có thể thấy ở hợp đồng mua máy bay Su-27SK và Su-30MK, khi tính năng chiến đấu của dòng máy bay này sản xuất tại Trung Quốc luôn thấp hơn so với phiên bản nhập khẩu trực tiếp từ Nga hay phiên bản xe tăng chiến đấu chủ lực T-90S sản xuất tại Ấn Độ cũng rơi vào tình trang tương tự và việc chuyển giao công nghệ chế tạo radar mạng pha quét chủ động hàng không (AESA) trong gói thầu F-X2 của Brazil.

MBT T-90S phiên bản xuất khẩu cho Ân Độ

Cũng cần nhấn mạnh rằng, động thái nói trên của các nước xuất khẩu công nghệ quân sự là để phòng ngừa việc, các nước nhập khẩu sau khi được chuyển giao công nghệ sẽ cho ra mắt phiên bản vũ khí nội địa có tính năng tương tự và sẽ quay lại cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm của quốc gia xuất khẩu trên thị trường vũ khí thế giới như: dòng máy bay chiến đấu J-11 của Trung Quốc phát triển (có thể là sao chép) từ cơ sở máy bay Su-27SK, HQ-9 (phiên bản xuất khẩu là FT-2000) trên cơ sở tổ hợp tên lửa phòng không S-300…

…Khắc phục

Đa dạng hóa nguồn cung vũ khí, trang bị: việc làm này một mặt sẽ tránh được việc phụ thuộc công nghệ vũ khí với các quốc gia xuất khẩu vũ khí (tránh lệ thuộc về chính trị).

Việc đa dạng hóa nguồn cung cũng giúp, nước nhập khẩu có quyền “ra điều kiện” đối với các nước xuất khẩu” khi quyết định thực hiện các hợp đồng nâng cấp hay mua vũ khí mới. Ngoài ra, thông qua quá trình này, nước nhập khẩu sẽ có quyền tiếp cận với nhiều nguồn công nghệ quân sự tiên tiến của các nước và chọn cho mình sản phẩm, công nghệ phù hợp nhất.

Máy bay Super Tucanno có thể coi là một điểm sáng trong khả năng tự lực quốc phòng của Brazil

Đẩy mạnh phát triển nền công nghệ quốc phòng nội địa: ngoài việc từng bước tự phát phát triển nền công nghiệp quốc phòng nội địa, việc này còn giúp nâng cao khả năng tiếp thu và làm chủ công nghệ quân sự được chuyển giao từ nước ngoài.

Đẩy mạnh hợp tác trao đổi kỹ thuật quân sự với nước ngoài: đây là bước đi tất yếu trong việc củng cố nền công nghiệp quốc phòng nội địa. Thông qua quá trình hợp tác, chia sẻ công nghệ (nếu có) sẽ tạo nền tảng cho các dự án phát triển vũ khí nội địa mới với sự trợ giúp của đối tác nước ngoài.

Ngoài ra, việc mua vũ khí, công nghệ quân sự từ nước ngoài cũng là cách “giảm tải” cho nền công nghiệp quốc phòng các nước nhập khẩu và giúp chúng tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực quân sự có thế mạnh.

Tuấn Sơn