QĐND Online - Tự lực quốc phòng luôn là yêu cầu tất yếu đối với quân đội tất cả các quốc gia trên thế giới. Khi đã độc lập trong ngành công nghiệp quốc phòng cũng đồng nghĩa với việc quân đội quốc gia đó có khả năng tác chiến độc lập dài ngày nhờ khả năng tự ứng và không phụ thuộc vào các nguồn cung nhập khẩu từ nước ngoài (yếu tố nhiều khi có thể làm thay đổi cục diện trận chiến như xung đột tại quần đảo Manvinat giữa Aghentina và Anh*).
Cũng như các ngành công nghiệp khác, để sở hữu một nền công nghiệp quốc phòng phát triển, các quốc gia cần có nền tảng các ngành khoa học cơ bản và ứng dụng đạt trình độ cao. Ngoài ra, cần có cả một hệ thống nghiên cứu và phát triển lâu dài. Yếu tố này thể hiện rõ rệt ở các quốc gia châu Âu, khi đây được coi là “cái nôi” của các ngành công nghiệp quốc phòng hiện đại trên thế giới (Anh, Nga, Pháp, Đức và “cường quốc” đi sau là Mỹ).
Hiện tại, các quốc gia đi sau, đặc biệt là nền kinh tế mới nổi thuộc nhóm BRIC (Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga), sở hữu tiềm lực kinh tế mạnh nhưng lại thiếu nền tảng công nghệ đã tìm nhiều cách để đẩy nhanh nền công nghiệp quốc phòng nội địa. Một trong những cách đó là việc hợp tác với các nước có nền công nghiệp quốc phòng phát triển thông qua các hợp đồng vũ khí lớn, phối hợp phát triển vũ khí mới cùng với điều kiện…là phải được chia sẻ công nghệ. Mặc dù được coi là hướng đi đúng đắn, nhưng hướng đi này cũng không phải là “con đường trải thảm đỏ” cho các nước nhập khẩu công nghệ muốn mau chóng xây dựng nền công nghiệp quốc phòng hiện đại.
 |
|
Chương trình Máy bay tấn công liên quân (JSF) hiện là dự án quốc tế được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm.
|
Muốn câu được cá to phải có…mồi béo
Do đặc thù không phải hướng đến đích đến cuối cùng là lợi nhuận, công nghiệp quốc phòng luôn đòi hỏi một nguồn vốn lớn, trong khi đó việc thu lời lại không thấm vào đâu với chi phí phát triển công nghệ. Bản thân các quốc gia có nền công nghiệp quốc phòng phát triển cũng muốn giảm “gánh nặng” này bằng cách xuất khẩu vũ khí, công nghệ “ở mức cho phép” cho các quốc gia khác. Thông qua phương thức này chi phí nghiên cứu và sản xuất vũ khí sẽ được giảm xuống và đảm bảo có nguồn kinh phí để tái đầu tư phát triển công nghệ vũ khí mới.
Hiện tại, quá trình chuyển giao công nghệ giữa các nước có nền công nghiệp quốc phòng phát triển thường được áp dụng theo phương thức hợp tác cùng phát triển. Phương thức này cho phép kế thừa các lĩnh vực thế mạnh của hai bên để đưa ra sản phẩm vũ khí ưu việt nhất với chi phí thấp nhất. Điển hình của phương thức này là chương trình Máy bay tấn công liên hợp (Joint Strike Fighter) phát triển chiến đấu cơ đa nhiệm thế hệ 5 F-35 Lightning II, dự án phát triển máy bay F-2 của Nhật Bản và chương trình phát triển máy bay Eurofighter Typhoon của các quốc gia châu Âu…
Đối với các quốc gia muốn nhập khẩu công nghệ, do không sở hữu nền khoa học-công nghệ quốc phòng “đủ hấp dẫn” với các quốc gia phát triển, hình thức hợp tác được sử dụng thường là thông qua các hợp đồng vũ khí có giá trị lớn kèm theo là yêu cầu chuyển giao công nghệ.
Đối với các quốc gia nhập khẩu công nghệ, các công nghệ được ưu tiên thường là các sản phẩm có “hàm lượng chất xám cao” và là xu hướng phát triển vũ khí tương lai của thế giới. Tuy nhiên việc “chọn lựa” này cũng phụ thuộc vào chiến lược quốc phòng của nước nhập khẩu và mức độ chia sẻ công nghệ của nước xuất khẩu.
 |
|
Cả Ấn Độ và Trung Quốc đều coi các phiên bản của dòng chiến đấu cơ Su-30MK là xương sống của lực lượng không quân.
|
Điển hình là việc Ấn Độ chọn mua dòng máy bay tiêm kích đa nhiệm Su-30MK và xe tăng chiến đấu chủ lực (MBT) T-90S của Nga là căn cứ vào việc nước này trong quá khứ đã có truyền thống sử dụng vũ khí do Nga sản xuất. Quân đội quốc gia Nam Á này sở hữu nhiều dòng vũ khí do Liên bang Xô viết, Nga sản xuất trong lực lượng lục quân (MBT T-72 và các dòng xe thiết giáp-BTR, chiến đấu bộ binh-BMP), không quân (Ấn Độ sở hữu 69 máy bay Mig-29, 200 máy bay Mig-21, 100 máy bay Mig-27, 2 máy bay cảnh báo sớm và chỉ huy trên không A-50EI, 6 máy bay tiếp liệu IL-78MKI và các phi đội trực thăng vận tải Mi-8, Mi-17, trực thăng tấn công Mi-35), hải quân (khinh hạm lớp Talwar và máy bay tuần tiễu hải quân Tu-142 and IL-38SD). Ngoài ra, các dòng vũ khí mới nói trên được chọn vì nó đáp ứng được yêu cầu của phía Ấn Độ và khả năng tác chiến (Su-30MKI là dòng chiến đấu cơ đa nhiệm có khả năng hoàn thành hầu hết các nhiệm vụ tác chiến hàng không, T-90 là dòng xe tăng chiến đấu chủ lực mới nhất của nga có tính năng tương đương với các dòng xe tăng hiện đại trên thế giới) và mức độ chuyển giao công nghệ từ phía Nga (Su-30MK được phát triển dành cho mục đích xuất khẩu và sẵn sàng chuyển giao công nghệ với “giá hợp lý”, điều này cũng tương tự với xe tăng T-90). Đặc biệt, Ấn Độ và Nga còn phối hợp phát triển tên lửa đối hạm siêu thanh BrahMos trên cơ sở tên lửa đối hạm P-800 Onyx của Nga.
Khác với Ấn Độ, Trung Quốc đã có truyền thống hợp tác với Nga trong lĩnh vực quốc phòng ngay từ thời Liên bang Xô viết. Hiện tại, hầu hết kho vũ khí khổng lồ của Trung Quốc đa phần là được phát triển hoặc vay mượn từ các dòng vũ khí của Nga. Do có nền khoa học-kỹ thuật quân sự tương đối phát triển, Trung Quốc có khả năng nhanh chóng nắm bắt và sao chép lại các dòng vũ khí nhập khẩu từ nước ngoài (không chỉ từ Nga mà còn từ nhiều quốc gia khác). Quan tâm lớn nhất hiện nay của Trung Quốc là các kỹ thuật liên quan tới lĩnh vực hàng không quân sự và hải quân. Các công nghệ này là “con đường” để Trung Quốc vươn tay kiểm soát các đại dương và nâng cấp các lực lượng quân sự hiện có.
Thành viên cuối cùng của nhóm BRIC là Brazil, quốc gia sở hữu kho vũ khí đa dạng nhập khẩu từ nhiều nước (chủ yếu là từ Mỹ và Pháp). Nhờ nỗ lực tự lực quốc phòng, quốc gia Nam Mỹ này đã đạt được những thành quả nhất định trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự (cho ra mắt các dòng máy bay quân sự nội địa như EMB 312 Tucano, EMB 314 Super Tucano, EMB 110 Bandeirante… và nhiều loại vũ khí-khí tài quân sự khác). Tuy nhiên, Brazil hiện vẫn chưa đủ khả năng đảm bảo cung cấp các dòng vũ khí chính cho quân đội (máy bay tiêm kích, xe tăng chiến đấu chủ lực…). Hầu hết các mặt hàng này, Brazil vẫn phải nhập khẩu (xe tăng chiến đấu chủ lực Leopard…).
 |
|
Chiến đấu cơ Rafale đang là ứng cử viên tại gói thầu tìm mua chiến đấu cơ mới tại Ấn Độ và Brazil
|
Do có giá trị lớn, các hợp đồng mua vũ khí của các quốc gia nhập khẩu công nghệ quốc phòng, đặc biệt là quốc gia thuộc BRIC…luôn là “miếng mồi” béo bở và khó có thể bỏ qua của các hãng chế tạo vũ khí lớn trên thế giới.
Phương thức chuyển giao công nghệ này hiện đang được áp dụng trong gói thầu chọn mua 126 máy bay tiêm kích đa nhiệm hạng trung mới (MMRCA) cho không quân Ấn Độ trị giá tới 12 tỉ USD, gói thầu mua máy bay F-X2 trị giá tới 5-10 tỉ USD…tất nhiên không thiếu điều kiện lắp ráp các máy bay trúng thầu tại nước sở tại và chuyển giao công nghệ chế tạo.
Các quốc gia nhập khẩu công nghệ hi vọng thông qua quá trình hợp tác sản sản xuất vũ khí công nghệ cao nói trên sẽ giúp rút ngắn giai đoạn phát triển và thực nghiệm công nghệ và nhanh chóng tiếp nhận công nghệ quân sự tân tiến của thế giới.
Tuấn Sơn
(còn nữa)
*Năm 1982, khi Anh và Aghentina xảy ra tranh chấp tại quần đảo Maninat. Pháp và Anh đã có thỏa thuận ngầm về việc không cung cấp cho phía Aghentina tên lửa đối hạm Excoet – vũ khí đáng sợ đối với các chiến hạm Anh đang tham chiến dẫn tới việc nước này bại trận.