Gần 20 năm hoạt động sân khấu, có ngót 8 năm đem tiếng hát của mình cùng đồng đội phục vụ kháng chiến chống Mỹ, tôi đã chứng kiến và được nghe kể lại nhiều kỷ niệm vui buồn ở các đoàn văn công mà tôi đã từng công tác, nên ghi lại sau đây

1.Đêm 21 rạng 22 tháng Chạp năm 1967 âm lịch (tức còn 8 ngày nữa là Tết Mậu Thân 1968), đoàn quân của Ban Tuyên huấn khu Tây Nam Bộ (trong đó có Đoàn Văn công gần 40 người) về đóng tạm ở kênh Xã Hội thuộc xã Xà Phiên, huyện Long Mỹ (tỉnh Hậu Giang ngày nay) để đêm sau tiếp tục hành quân. Buổi sáng đầu tiên ở đồng bằng đối với cô cậu “công tử” văn công, quen kiểu sinh hoạt ở rừng, còn rất nhiều lôi thôi, bê bối trong việc cảnh giác, kẻ còn nằm ì, người mang dép râu, dép Lào đến nhà dân cán bánh phồng; có cô cậu khăn quấn cổ, vải dù choàng thân lệt phệt, đến nhà này, sang nhà nọ làm quen, tán gẫu... Đến khi trực thăng quần thảo, bắn phá, bắn rốc-két dọn bãi và hàng tốp, hàng tốp trực thăng ì ầm đổ quân thì các thầy cô công tử rừng mới hoảng hồn khiếp vía, kẻ xách, người mang chạy cuống cuồng... Tôi cũng trong nhóm này, đến bây giờ biết ra, tôi mới hú vía!

Kênh Xã Hội nằm độc đạo giữa hai cánh đồng dài, một bên giáp kênh Ba Nước, cũng đồng trống mông mênh, một bên giáp với xã Lương Tâm, vườn rất mỏng, hai bên cũng đồng trống trơ rạ. Vậy mà, lệnh chỉ huy phổ biến tiếp tục ở thêm đêm và ngày nữa, gọi là để dưỡng quân. Bởi các cụ nhận xét: giặc đã đánh xong rồi, chắc sẽ không còn đánh lại...!? Ngày thứ hai ở đồng bằng, cách nay gần tròn 40 năm mà tôi còn nhớ rất rõ. Buổi sáng hôm đó, không gian phẳng lặng đến kinh sợ, không một tiếng chim hót ban mai, xóm làng cũng lặng im như nín thở để chờ đợi một cái gì đó không bình thường sẽ ập đến. Bỗng hàng loạt đại bác từ Ngang Dừa, Long Mỹ cấp tập nã vào, con kênh Xã Hội chỉ còn thấy khói và đất tung bay mù mịt, mặt đất rung lên từng hồi. Vừa dứt pháo, từ hướng Vị Thanh vang rên tiếng động cơ trực thăng đầu lân, cá lẹp lao vun vút về hướng kênh Xã Hội. Chúng lượn đảo, gầm rú như muốn ăn tươi nuốt sống con kênh nhỏ bé giữa đồng lầy. Qua nhiều đợt bắn phá, phóng pháo dọn bãi, hàng đàn trực thăng hạ cánh đổ quân. Chúng đánh theo lối cuốn chiếu, từ đầu kênh giáp Lương Tâm, dồn chúng tôi về phía đám lá giáp kênh Ba Nước. Trên dưới 300 con người, cả cán bộ địa phương, dân bám trụ và chúng tôi vào khu rừng lá khoảng 3ha, cặp sông Nước Trong. Càng về chiều, giặc càng tiến gần đến chúng tôi.

Màn đêm buông xuống. Khi địch rút đi, kênh Xã Hội phủ trùm không khí tang tóc thê lương. Đó đây dậy tiếng khóc than gọi chồng, kêu con thảm thiết. Trận càn ngày qua, chúng đã bắn chết 4 người dân vô tội. Về phía chúng tôi, chúng bắt sống 2 người, nhạc sĩ Phan Thao và người bảo vệ chú Út Triều - Trưởng Tiểu ban Văn nghệ khu Tây Nam Bộ. Ta mất nhiều khẩu súng, trong đó đoàn chúng tôi mất khẩu K2. Vài hôm sau, chúng tôi có mật tin “... trong đoàn đi có tên gián điệp, ngày trước chúng chỉ trật điểm, và nó đã bị bắt, đền tội”. Và khoảng 10 ngày hôm sau, nhạc sĩ Phan Thao cũng vượt ngục, từ Vị Thanh lội về tìm đoàn, cùng với đoàn quân tiến vào trận Tổng tiến công 1968.

Ngay sau phút ngậm ngùi, lệnh của trưởng đoàn phải tiếp tục hành quân. Từng người, từng người một đến vuốt mặt hai đồng đội nằm lại đây, nhờ địa phương và bà con chôn cất. Tất cả gắng gượng gạt nước mắt nhưng nước mắt cứ trào ra, đã xuống xuồng mà đầu vẫn quay lại nơi hai người thân đang nằm. Đêm ấy, sân khấu đèn măng sông vẫn sáng, tiếng hát vẫn vang lên. Nhưng trên sàn diễn còn đọng lại nước mắt của đồng đội Phượng và Nguyễn.

2.Đoàn văn công Cần Thơ được lệnh về phục vụ đồng bào ở kênh Xáng Ô Môn nhân đêm ngừng bắn Tết 1967-1968. Khoảng 5 giờ chiều ngày 30 tháng Chạp năm 1967 (âm lịch), đoàn hành quân đến rạch Ông Đưa, thuộc xã Định Môn, huyện Ô Môn. Chiếc máy bay đầm già lượn đảo mấy vòng, phát hiện đoàn quân đang di chuyển. Tất cả đoàn xuồng, cặp vào bờ tìm nơi trú ẩn. Đồng chí Út Nguyễn và nữ đồng chí Phượng trong đoàn nhào xuống một cái mương trống, Nguyễn lột tấm vải dù bông choàng lên, hai người nằm sát bên nhau, hòng ngụy trang, che mắt chiếc đầm già. Nhưng ngay lúc đó, một trái pháo nổ làm hai đồng chí hy sinh tại chỗ. Sau đó chiếc đầm già bay đi, tan trận phóng pháo. Đoàn củng cố lại đội hình, thấy mất Nguyễn và Phượng, anh em tỏa ra đi tìm. Không mấy khó khăn, gặp ngay hai đồng chí, đắp chung tấm vải dù bông nằm cặp mé mương. Khiêng xác hai đồng chí lên vẫn để nằm cặp bên nhau, đắp chung tấm vải dù trên chiếc sân trống. Nam nữ cả đoàn ai cũng òa khóc như mưa, to tiếng nhất vẫn là các cô gái bạn của Phượng, bà con cũng xúm lại rất đông. Ngay sau phút ngậm ngùi, lệnh của trưởng đoàn phải tiếp tục hành quân. Từng người, từng người một đến vuốt mặt hai đồng đội nằm lại đây, nhờ địa phương và bà con chôn cất. Tất cả gắng gượng gạt nước mắt nhưng nước mắt cứ trào ra, đã xuống xuồng mà đầu vẫn quay lại nơi hai người thân đang nằm. Đêm ấy, sân khấu đèn măng sông vẫn sáng, tiếng hát vẫn vang lên. Nhưng trên sàn diễn còn đọng lại nước mắt của đồng đội Phượng và Nguyễn.

3.Đầu mùa mưa năm 1972, đội Văn công Xung kích II Cần Thơ, đã về ở đậu với văn phòng Huyện ủy huyện Ô Môn hơn nửa tháng. Lúc bấy giờ, căn cứ đóng tại ngọn Đìa Muồng, thuộc xã Trường Long, huyện Ô Môn.

Đã xế chiều, không có càn quét là xem như được một ngày yên ổn. Tất cả cánh đàn ông, con trai của văn phòng, văn công được phân công ra ngoài dân để tải gạo và đồ dùng cần thiết như: trà, thuốc, bột ngọt, xà bông, đường, thuốc rê, dầu lửa. Chỉ có Hùng Lĩnh - nhạc công đánh trống Ác-coóc (đàn phong cầm) của Đội, vì bệnh ở lại cùng Thanh Xuân, Tuyết Lệ - diễn viên văn công và một cô gái văn phòng. Khoảng 5 giờ chiều, bỗng hai chiếc trực thăng đầu lân xuất hiện, quần thảo phóng pháo, bắn đại liên xối xả xuống ngọn Đìa Muồng. Hùng Lĩnh và ba cô gái bị bất ngờ, nhanh chân mang đồ xuống hầm bí mật. Nhưng không kịp nữa rồi! Ba chiếc trực thăng đã hạ cánh đổ quân. Bọn lính như con hổ đói hộc tốc chạy thẳng hướng mục tiêu (văn phòng Huyện ủy), vừa chạy, vừa xả súng, la hét inh ỏi. Xuân, Lệ và cô gái văn phòng nhảy xuống mương lục bình cách đó vài trăm mét, 3 người cùng lặn xuống, ngửa mặt, nhắm mắt, ngước lỗ mũi lên lục bình để thở, cả ba vì quá sợ nên đứng sát vào nhau không rời. Đó là cái dại nhưng may nhờ cái dại ấy mà còn sống.

Bọn lính xông thẳng vào các chòi, mặc sức đập phá, châm lửa đốt cái chòi lớn nơi văn phòng hội họp, làm việc. Không thấy bóng người, chúng lùng sục, tìm kiếm khắp nơi. Có tên chửi thề nói:

- Tại sao nó báo còn ở lại đây 4 tên một nam, ba nữ mà không thấy?

Chúng lùng đến mương lục bình, thấy có đường lướt, một tên lính hăng máu nhảy xuống mò, nó huơ tay, huơ chân lội khắp mương nhưng chẳng đụng gì cả, nó đổ quạo chửi thề:

- Chắc nó chết hết rồi! Lạnh thấy mẹ!

Đợi thật lâu không còn tiếng động, 3 cô gái thập thò, lần lượt rất thận trọng lội về chòi - giờ đây chỉ còn là cảnh điêu tàn.

Không thấy Hùng Lĩnh đâu, mà cũng không dám gọi lớn, 3 cô gái tỏa ra đi tìm. Cách đó khá xa, Hùng Lĩnh nằm nghiêng bất động, hai tay ôm chặt chiếc đàn phong cầm, mắt mở. Ba cô gái xúm lại, vừa khóc vừa kêu:

- Anh Lĩnh ơi, anh Lĩnh à!

Nhưng Lĩnh của các em còn đâu nữa mà kêu. Rồi 3 cô gái ì ạch khiêng xác Hùng Lĩnh về cái chòi văn công ở. Trong mái chòi, đồ đạc bị đập phá vung vãi tứ tung, ba cô gái ngồi quanh xác đồng đội, khóc mà không dám khóc to, vì sợ...

4.Quê chị ở rạch Cái Dứa - xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ. Chị tốt nghiệp trường âm nhạc Cục miền Nam, khóa nhạc công vi-ô-lông. Tấm gương yêu nghề của chị đáng khâm phục. Những tháng bị giặc bắt giam ở khám Lớn Cần Thơ, gia đình vào thăm cho mía, chị không ăn, ngày, đêm, cầm khúc mía đưa lên cổ tưởng tượng đó là cây đàn, tay trái bấm nốt rung rung, tay mặt đưa qua, kéo lại ngang khúc mía như kéo acé nhịp nhàng, uyển chuyển, dịu dàng, miệng xướng nhạc theo từng bài hát. Khúc mía này khô, gãy, chị lại thay khúc mía khác. Đến hạn tù được thả ra, trong xà lim của chị có trên chục khúc mía khô, láng lứt. Nhờ vậy mà khi trở về Đoàn, chị cầm lại cây đàn vi-ô-lông thật, chẳng những không lợ tay mà còn đàn hay, chính xác hơn. Đó là nữ nhạc công Loan Anh, đánh đàn vi-ô-lông của đoàn Văn công Cần Thơ. Chị chơi nhạc rất hay, bắt đầu sáng tác vài bài.

Lâu quá chẳng còn nhớ rõ năm nào, chỉ nhớ mang máng, năm 1966-1967 gì đó, căn cứ của Đoàn đóng tại vàm Cái Nhàu, xã Vĩnh Viễn, Long Mỹ. Khoảng 5 giờ chiều, Đoàn ăn cơm thường nhật. Nghe tiếng trực thăng bay, xà thấp muốn đụng đọt cây, cả Đoàn nhốn nháo mạnh ai nấy chạy tìm khoảng trống để quan sát chiếc trực thăng muốn gây sự gì? Chị Loan Anh tay bưng chén cơm, tay cầm đũa, vừa chạy ra tới mí vườn bị ngay một viên đạn vô tình từ chiếc trực thăng bắn vảy xuống. Chị ngã quỵ, nằm sóng xoài trên mặt đất, chiếc trực thăng bay tuốt. Mới biết, chiếc máy bay ấy sắp hạ cánh, chúng bắn vảy cho hết đạn, để đáp xuống an toàn, thường khi chúng cũng làm thế. Anh chị em xúm lại khiêng chị Loan Anh vào nhà, viên đạn xuyên ngang phổi, máu từ trong phổi trào bọt ra. Trường hợp ấy, nếu biết y học thông thường, cứ đỡ chị ở tư thế ngồi, máu có đọng lại trong ngực chị cũng thở được để kéo dài thời gian chở tới quân y. Đằng này, một anh có trách nhiệm để tấm ni-lông kín vết thương, để chị nằm ngửa, máu ứ đọng không thở được, chẳng bao lâu chị tắt thở trên đường chở tới quân y. Khi nghe bác sĩ giải thích, cả Đoàn đều tức tối. Đành ôm xác chị Loan Anh mà khóc, thương tiếc một nghệ sĩ còn trẻ.

5.Tôi còn nhớ đêm ấy không trăng, Đoàn diễn trên một cái sân rộng chứa cả ngàn khán giả, đang xem hấp dẫn bỗng một chiếc máy bay ầm ầm lao tới như con ác quỷ đang hiện hình trên bầu trời tối om. Ném trái bom cách sân diễn vài chục mét, một tiếng nổ kinh hồn, vầng lửa bốc lên cao, mùi khói bay khét lẹt. Sau tiếng nổ, tiếng khóc, tiếng la vang rền, tiếng gọi kiếm tìm í ới, cánh văn công chúng tôi cũng chạy thất lạc tứ tung, đứa lội qua sông, đứa phóng xuống mương. Rồi phút giây hỗn loạn ấy cũng qua, trả lại bầu không khí trong lành sau cơn bàng hoàng. Từ trên khán đài tối om, chiếc loa phóng thanh bỗng vang lên:

- Đồng bào hãy bình tĩnh trở lại, chiếc máy bay quăng bom trộm mà thôi, chúng đã bay xa rồi. Bà con ai có bị thương hoặc chết, yêu cầu địa phương phối hợp các lực lượng bảo vệ sắp xếp đưa người bị thương đến trạm cấp cứu hoặc chở tử thương về nơi tập kết để cuộc lễ tiếp tục tiến hành... yêu cầu đoàn Văn công củng cố, sắp xếp lại để tiếp tục biểu diễn phục vụ đồng bào.

Chúng tôi đứa nào cũng ướt mèm, quần áo, trống, đàn, màn vung vãi tứ tung. Rồi kẻ đốt lại đèn măng sông, người treo lại cánh gà, anh lau khô lại trống, đàn, chị nọ sửa sang, điểm trang lại khuôn mặt, có một điều không thể khắc phục - đó là áo quần bị ướt... Đêm văn nghệ diễn tiếp, kép, đào, vua chúa, long bào, mão mũ ướt, đất sình lấm lem. Vua quan trên sân khấu hay dân dã dưới sân, áo quần nhếch nhác hoặc ướt sũng đều như nhau. Đêm văn nghệ say sưa vẫn tiếp tục.

MINH THƠ