“Về đây đồng đội ơi”
Từ trung tâm thành phố Hà Giang (trước đây), xe xuôi dọc Quốc lộ 2, men theo dòng sông Lô xanh thẳm, qua địa phận huyện Vị Xuyên (trước đây) giữa trùng điệp núi đá và những khúc đường uốn lượn. Con đường không chỉ đưa đoàn công tác tiến gần hơn tới điểm đến, mà còn mở ra trong tôi những suy tưởng về một vùng đất từng đi qua khói lửa của chiến tranh, nơi mỗi vách đá vẫn còn lưu giữ ký ức của cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc.
 |
| Phần mộ liệt sĩ được an táng trong đợt tìm kiếm, quy tập tại Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên. Ảnh: VĂN NGHỊ |
Mặt trận Vị Xuyên ngày ấy được ví như “Lò vôi thế kỷ”, là những “Cối xay thịt người”, “Thác gọi hồn” hay “Ngã ba cửa tử”... Núi rừng hôm nay vẫn như còn vang vọng lời thề khắc trên báng súng của Anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Viết Ninh: Sống bám đá đánh giặc, chết hóa đá bất tử.
 |
Cấp phát bình lọc nước hỗ trợ người dân xã Vị Xuyên khắc phục hậu quả thiên tai. Ảnh: PHẠM THỨ
|
Chúng tôi dừng chân tại Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên khi nơi đây chuẩn bị diễn ra lễ viếng, truy điệu và an táng một mộ liệt sĩ tập thể cùng 5 hài cốt liệt sĩ vừa được quy tập từ các xã vùng biên.
Gió xào xạc qua những tán cọ. Chúng tôi cùng các cựu chiến binh lặng lẽ bước giữa những hàng mộ ngay ngắn, rồi dừng lại trước những rặng tùng thẳng đứng phía sau. Tôi chợt nhớ đến những vần thơ trong bài thơ "Tùng" của Nguyễn Trãi: Thu đến cây nào chẳng lạ lùng/ Một mình lạt thuở ba đông/ Lâm tuyền ai rặng già làm khách/ Tài đống lương cao ắt cả dùng.
Cây tùng trong thơ Nguyễn Trãi là biểu tượng của sức sống kiên cường trong ba tháng mùa đông giá rét. Còn các anh, những người lính năm xưa, đã bám trụ từng mỏm đá, giữ từng mét đất của Tổ quốc, để hôm nay nằm lại bình yên dưới bóng những rặng cây tùng ấy. Tiếng kinh kệ ngân đều giữa những hàng mộ giống như mẹ ru, để các anh nghìn thu an giấc.
 |
| Công trình cầu và đường ở thôn Lũng Khỏe B, xã Thuận Hòa. Ảnh: Trung tâm Nghiên cứu Sáng kiến và Phát triển cộng đồng |
Rồi giữa không gian đầy xúc cảm, linh thiêng ấy, có những tiếng hát cất lên từ chính người người lính Vị Xuyên năm nào: Hãy về đồng đội ơi/ Còn nằm khe đá hay thung sâu/ Về đây có nhau, như nguyện ước chiến hào/ Được hòa cùng đàn trẻ thơ bên sông Lô hát yên bình/ Quân dân nồng ấm nghĩa tình… ("Về đây đồng đội ơi" - Trương Quý Hải).
Tiếng hát vang vọng giữa hồn thiêng sông núi, có lẽ còn ở lại rất lâu trong lòng những người trẻ như chúng tôi - thế hệ chưa từng trải qua khói lửa chiến tranh, để càng thấm thía hơn sự hy sinh xương máu của cha anh cho bình yên, ấm no, hạnh phúc hôm nay. Tôi không khỏi xúc động trước nghĩa tình đồng đội trong cuộc trò chuyện bên lề với chính những người lính vừa cất lên lời hát “Về đây đồng đội ơi”. Dù chưa kịp nhớ mặt gọi tên, song sẽ không quên những dòng nước mắt khi ấy, và biết rằng năm nào họ cũng trở về đây trong những dịp đặc biệt, như một lời hẹn với đồng đội đã nằm lại.
Hỗ trợ sinh kế cho người dân
Đứng dưới đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại nghĩa trang, ngay trước khi rời đi, tôi chợt nghĩ mảnh đất Vị Xuyên từng oằn mình trong khói lửa này hiện nay vẫn còn không ít những xã vùng cao, những thôn bản chật vật với đường đi, với nước sạch sinh hoạt và cả những mùa mưa lũ ngập lụt.
Nhiều năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm lo đời sống nhân dân vùng biên giới luôn được quan tâm bằng những việc làm cụ thể, thiết thực. Cùng với đó là sự đồng hành của các tổ chức xã hội như Trung tâm Nghiên cứu Sáng kiến và Phát triển Cộng đồng - một tổ chức khoa học và công nghệ phi lợi nhuận trực thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, đã góp sức, cải thiện đời sống cho bà con những vùng còn nhiều khó khăn ấy.
Trong chuyến đi thực tế tại xã Cao Bồ (Tuyên Quang), tôi cảm nhận rõ tình cảm chân thành của lãnh đạo địa phương và bà con dành cho Trung tâm.
Chiều muộn, sương mù phủ kín dãy Tây Côn Lĩnh, con đường từ Quốc lộ 2 vào xã chỉ có một lối độc đạo, quanh co men theo sườn núi. Có những đoạn dốc dựng đứng, một bên là vách đá, một bên là vực sâu lẩn khuất. Cao Bồ là xã vùng cao thuộc huyện Vị Xuyên trước đây, không chỉ nổi tiếng với rừng đỗ quyên, chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Đồng chí Hoàng Văn Lượng, Phó chủ tịch UBND xã, cùng đồng chí Nguyễn Sỹ Kha, Chánh Văn phòng UBND xã, dẫn chúng tôi tới thôn Lùng Tao, Tham Vè để tận mắt chứng kiến những công trình và mô hình sinh kế được hỗ trợ.
Trên đường đi, đồng chí Nguyễn Sỹ Kha kể về sự trân trọng của bà con đối với RIC, bởi những đổi thay thiết thực trong đời sống. Tối ấy, bên bếp lửa hồng, chúng tôi lặng nghe những tâm sự mộc mạc của đồng bào, họ không nhắc nhiều tới những con số cụ thể mà chỉ bảo rằng từ khi được hỗ trợ, cuộc sống đã vững vàng hơn, những lo toan cũng bớt phần nặng nhọc.
 |
| Cấp phát bò con giống cho tổ sinh kế nuôi bò bản địa thôn Khâu Mèng. Ảnh: Trung tâm Nghiên cứu Sáng kiến và Phát triển cộng đồng |
Tại các xã thuộc huyện Vị Xuyên trước đây như Thuận Hòa, Cao Bồ, Việt Lâm, Trung tâm Nghiên cứu Sáng kiến và Phát triển Cộng đồng đã cùng chính quyền và người dân triển khai nhiều mô hình thiết thực. Hơn một năm qua, 14 công trình hạ tầng thiết yếu đã được thực hiện, từ gần 3,5km đường bê tông nội thôn, những cây cầu qua suối, hệ thống nước tự chảy ở Bản Dâng đến các hạng mục gia cố nhà tránh trú. Tổng kinh phí hơn 4,8 tỷ đồng, trong đó người dân tự nguyện đóng góp gần 18%, cùng bàn bạc, cùng làm, cùng giám sát.
Bên cạnh hạ tầng là các sáng kiến phòng, chống thiên tai và chương trình trường học an toàn với 510 triệu đồng hỗ trợ ba điểm trường vùng cao, từng bước giúp gần 2.000 học sinh có môi trường học tập vững chãi trước các loại hình thiên tai ngày càng khắc nghiệt, khó lường trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Đáng chú ý, những mô hình sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu do phụ nữ làm chủ đã bắt đầu bén rễ ở Khuổi Luông, Bản Dâng, Hòa Sơn, Khâu Mèng: Nuôi lợn đen bản địa, trồng lá giang trên 10,2 ha, nuôi bò giống… Hàng chục hộ gia đình, phần lớn là hộ nghèo, được hỗ trợ con giống, kỹ thuật và cách tổ chức sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu. Nhưng điều quan trọng hơn cả không nằm ở số tiền được hỗ trợ, mà ở việc người dân tự đứng ra xây dựng quy chế nhóm, tự quản lý và quyết định hướng đi của mình.
Anh Lê Văn Hải, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Sáng kiến và Phát triển Cộng đồng, say sưa kể với chúng tôi về những dự án anh cùng các cộng sự đã triển khai tại các thôn bản vùng cao thuộc Vị Xuyên trước đây. Anh Hải nhấn mạnh: “Mỗi dự án đều được thiết kế dựa trên nhu cầu thực tế của người dân, từ điều kiện tự nhiên đến tập quán sản xuất. Chúng tôi chỉ đóng vai trò kết nối nguồn lực, chuyển giao kỹ thuật và hỗ trợ bước khởi đầu. Còn sự bền vững phải đến từ chính sự tham gia và quyết định của cộng đồng địa phương”.
Trong chuyến công tác lần này, chúng tôi còn theo đoàn tham gia hoạt động cấp phát bình lọc nước cho người dân xã Vị Xuyên. Hoạt động được triển khai với sự phối hợp của chính quyền địa phương, các đối tác quốc tế thông qua tổ chức Plan International cùng Trung tâm Nghiên cứu Sáng kiến và Phát triển Cộng đồng. 110 bình lọc nước được trao tận tay những hộ chịu ảnh hưởng nặng sau các đợt thiên tai năm 2025. Sau mưa lũ, nhiều tuyến ống dẫn nước từ đầu nguồn trên núi bị hư hỏng, bà con phải tự đi kéo lại, chắp nối tạm bợ. Không ít nguồn nước bị đục, không đảm bảo an toàn. Có gia đình phải mua nước sạch mang về dùng, nhưng chi phí cao, lại chưa quen với mùi Clo khử trùng.
Bà Đỗ Thị Lan, thôn Làng Khẻn, xã Vị Xuyên, nói vui rằng, Tết này, bà được đón xuân sớm hơn và “trong lành hơn”. Giữa cái rét vùng cao và nỗi lo còn chưa kịp nguôi sau thiên tai, có nước sạch để nấu nồi bánh, pha ấm trà, lo bữa cơm ngày Tết cũng là một sự yên tâm giản dị mà quý giá.
Xuân sớm về trên những bản làng vùng đất mặt trận Vị Xuyên xưa. Những cánh đào phớt hồng đã sớm nở trên triền núi. Ở mảnh đất từng đi qua những năm tháng khốc liệt của cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc, sắc đào hôm nay như máu đã hòa vào lòng đất, rồi âm thầm theo mạch nguồn của sự sống mà mọc lên, âm thầm mà bền bỉ như chính con người nơi đây.
Chúng tôi trở lại Hà Nội khi sương mù đã tan khỏi dãy núi. Những làn khói mỏng bốc lên từ mái nhà sàn, quyện trong không khí yên ả đón chào một năm mới. Nhìn những mái nhà ấy, tôi chợt nhớ đến câu thơ của Hoàng Trung Thông: “Lúa thêm hạt, mái nhà thêm ấm khói”.