Theo ký ức của bà Viễn, vào ngày 18-12-1972, ngay sau khi nhận được lệnh cảnh báo địch chuẩn bị đưa B-52 đánh phá Thủ đô, bà Viễn, khi đó là công nhân Nhà máy Cơ khí Mai Động đã lập tức cùng đồng đội trong Liên đội tự vệ (gồm lực lượng của 3 nhà máy: Cơ khí Mai Động, Cơ khí Lương Yên và Gỗ Hà Nội) nhanh chóng cơ động từ trận địa bên bờ sông Kim Ngưu đến trận địa pháo 100mm ở phố Hai Bà Trưng để thực hiện nhiệm vụ tiếp đạn.

Cứ thế suốt 4 đêm ròng rã, bà Viễn cùng đồng đội khi thì chạy đi, chạy lại để cứu thương, cứu sập, khi lại lặng lẽ khâm liệm những người xấu số thiệt mạng do trúng bom quanh khu vực nhà máy, không có cả thời gian ăn uống, nghỉ ngơi. Mãi tới chiều 22-12, khi có lệnh hành quân, mọi người mới tranh thủ thay phiên nhau ghé qua nhà lấy thêm lương thực, chuẩn bị cho đợt trực dài ngày.

Bức ảnh bà Phạm Thị Viễn, nữ tự vệ chít khăn tang bên mâm pháo. Ảnh do nhân vật cung cấp 

Sau đó, bà Viễn cùng đồng đội hành quân về trận địa Vân Đồn, khẩn trương kéo pháo lên ụ và cẩn thận căn chỉnh từng khẩu súng. Hơn 20 giờ, tiếng còi báo động dồn dập vang lên, cả đơn vị lập tức bước vào tư thế chiến đấu, tinh thần tập trung cao độ chờ thời cơ. Sau khi khẩu lệnh “bắn!” của chỉ huy vang lên, bà Viễn (ở vị trí pháo thủ số 1) cùng đồng đội trong Liên đội đồng loạt nhả đạn, bắn 19 viên đạn 14,5mm nhằm vào chiếc máy bay F-111A “cánh cụp, cánh xòe”. Bà nhìn rõ phần đuôi máy bay lóe sáng khi trúng đạn. Đây là loại máy bay ném bom siêu thanh hiện đại bậc nhất của không quân Mỹ lúc bấy giờ, có khả năng thay đổi góc quét cánh (cánh cụp, cánh xòe), phù hợp với các chế độ bay; được trang bị hệ thống ra-đa bám địa hình, cho phép bay ở độ cao thấp nhằm tránh hệ thống ra-đa tầm xa và tên lửa của ta.

Sáng hôm sau, tin chính thức báo về: Máy bay địch đã rơi tại Hòa Bình và 2 phi công đã bị bắt sống. “Lúc ấy chúng tôi vui lắm, cảm xúc như vỡ òa, thấy tự hào vô cùng. Khi hay tin đơn vị lập công, đại diện lãnh đạo nhà máy, UBND thành phố cùng Quân khu Thủ đô đến tận nơi chúc mừng và mang theo nhiều quà bánh, thuốc lá để động viên chúng tôi”, bà Viễn chia sẻ.

Niềm vui lập công chưa dứt thì đêm 26-12-1972, bom địch đánh trúng hầm trú ẩn của gia đình bà Viễn, cướp đi sinh mạng của bố và 2 người anh họ của bà. Rạng sáng hôm sau, hai cô em gái lên đơn vị tìm chị, người lem luốc đất cát, mắt đỏ hoe, báo tin bố đã mất. Bà Viễn vội vã thu xếp công việc trở về. Khi tìm về nơi bố trú ẩn, trước mắt cô nữ tự vệ chỉ là mặt ao nổi đầy xác cá chết trắng. Phải đến 3 ngày sau, một người đi gánh nước tưới rau phát hiện và báo tin, bà Viễn mới tìm được thi thể của bố. Những mất mát, nỗi đau của gia đình biến thành lòng căm thù giặc, tiếp thêm sức mạnh, quyết tâm chiến đấu cho nữ tự vệ trẻ. Nhanh chóng thu xếp việc nhà, trở về trận địa, với chiếc khăn tang trắng trên đầu, nữ tự vệ Phạm Thị Viễn tiếp tục kiên cường bám trụ bên mâm pháo...

Bà Phạm Thị Viễn (bên trái) giới thiệu những bức ảnh thời chiến được bà treo trang trọng trên tường nhà. Ảnh: NGỌC THANH 

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nữ chiến sĩ tự vệ can đảm ngày nào hiện sống giản dị, bình yên bên các con cháu trong ngôi nhà nhỏ. Hằng ngày, đôi bàn tay gầy gò của bà vẫn nâng niu, cẩn trọng lau chùi từng tấm ảnh kỷ niệm thời chiến được treo trang trọng trên tường. Bà cũng luôn nâng niu tập thơ được chính nhà thơ Tố Hữu ký tặng, trong đó có bài thơ “Việt Nam máu và hoa”.

Hình ảnh nữ chiến sĩ tự vệ Phạm Thị Viễn chít khăn tang kiên cường bên mâm pháo đã tạo cảm hứng cho những vần thơ của nhà thơ Tố Hữu trong bài thơ này: “Trắng khăn tang, em chẳng khóc đâu/ Hỡi em gái mất cha mất mẹ/ Nước mắt rơi, làm nhòa mặt quân thù/ Em phải bắn, trúng đầu giặc Mỹ”.