Lam Vĩ, một địa chỉ đỏ ở ATK (an toàn khu) Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Nơi đây, những năm đầu thập kỷ 50 của thế kỷ trước, là mảnh đất sinh ra cục Quân khí (Tổng cục Kỹ thuật). Bởi vậy, trong tâm tưởng cán bộ, chiến sĩ cục Quân khí luôn đau đáu nhớ về nguồn.

Làng Quyền

Trong chuyến về nguồn lần này, có đông đủ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy ở các kho thuộc cục Quân khí. “Chưa có bao giờ đồng bào các dân tộc xã Lam Vĩ lại được đón nhiều cán bộ cao cấp đến như vậy!”. Ông Nguyễn Văn Hiện, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Lam Vĩ thổ lộ.

Đứng trước nhà văn hóa thôn Làng Quyền, trên khoảng sân rộng hàng trăm mét vuông, được đổ bê tông khá đẹp, ông Hiện kể rằng: “Năm 2004, cán bộ, chiến sĩ cục Quân khí, bằng tình cảm và trách nhiệm đối với xã Lam Vĩ, đã quyên góp tiền xây tặng nhân dân thôn Làng Quyền nhà văn hóa rộng gần 170 mét vuông, với đầy đủ trang, thiết bị nghe nhìn và hai tủ sách trị giá gần 600 triệu đồng”. Xung quanh sân, tôi thấy khá nhiều chậu hoa, cây cảnh. Mỗi chậu, mỗi cây đều được treo tấm biển ghi rõ tên các đơn vị trong cục Quân khí tặng, làm tăng thêm vẻ đẹp cho khuôn viên văn hóa ở vùng cao Việt Bắc. Ông Hiện nói rằng: “Không phụ tình cảm, sự quan tâm của cán bộ, chiến sĩ quân khí, chúng tôi quản lý, khai thác, sử dụng nhà văn hóa có hiệu quả cao nhất, xứng đáng là địa chỉ văn hóa để giáo dục truyền thống cho các thế hệ thanh niên xã Lam Vĩ”. Cạnh nhà văn hóa, là bia kỷ niệm làm bằng tấm đá cỡ lớn, nổi bật những dòng chữ vàng: “Di tích lịch sử cách mạng kháng chiến-Cơ quan cục Quân khí Tổng cục Cung cấp đóng quân từ cuối năm 1951 đến ngày 11-10-1954. Tại đây, cục Quân khí đã tham mưu với Tổng cục Cung cấp, Tổng quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh xây dựng và phát triển ngành quân khí toàn quân. Đồng thời, trực tiếp chỉ đạo, bảo đảm vũ khí đạn dược cho LLVT trên các chiến trường, mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn”.

Đứng trước tấm bia kỷ niệm, ông Ma Đình Đặng, 81 tuổi, dân tộc Tày, ở thôn Làng Quyền, trước công tác ở sư đoàn 350, về hưu với quân hàm thiếu úy, kể: “Hồi cục Quân khí ở đây, mình biết chứ, bộ đội còn dạy chữ cho mình mà, mình vẫn còn nhớ hai cửa hầm, cách đây vài chục mét”. Ông cao, to, bước đi vững chắc, hèm nỗi là răng đã rụng hết. Ông cười, nói vui: “Khi nào mình mọc răng, mình sẽ lấy vợ”. Câu nói đùa khiến mọi người xung quanh cùng cười, xua tan không khí oi nồng vì nắng nóng. Ông bảo: “Bà con thôn Làng Quyền phấn khởi lắm, được bộ đội quân khí xây cho nhà văn hóa, làm nơi hội họp, vui chơi cho các cháu, ai cũng mừng”.

Người cùng sư đoàn

Tôi gặp ông Ma Đức Cấn, dân tộc Tày, thương binh hạng 4/4, là một trong tám đối tượng chính sách ở xã Lam Vĩ được cục Quân khí tặng quà trong chuyến về nguồn lần này. Trong câu chuyện, ông Cấn kể rằng, ông đi bộ đội từ năm 1966, và cũng năm đó, ông cùng đơn vị hành quân vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Nghe ông kể, tôi nhớ hồi trước, tôi hành quân vào chiến trường bắt đầu từ Làng Ho, tỉnh Quảng Bình. Còn ông, bằng đôi chân vạn dặm, lại “cuốc bộ” từ Hà Bắc (trước đây), vượt qua đất lửa khu 4, rồi qua sông Bến Hải, mãi sáu tháng sau mới vào đến chiến trường. “Ông ở đơn vị nào?” - Tôi hỏi, ông bảo: “Mình ở trung đoàn 21, sư đoàn 2, hồi ấy gọi là Nông trường 2”. “Thế là người cùng sư đoàn rồi!”- Tôi reo lên rồi ôm ngang lưng ông: “Tôi cũng ở sư đoàn 2 chục năm”. Còn ông, từ năm 1966 đến năm 1970, là lính “Sư đoàn thép”, sang năm 1971, ông chuyển vào sư đoàn 3 mang tên Sao Vàng. “Ông có nhiều kỷ niệm sâu sắc ở sư đoàn 2?” - Ngẫm nghĩ một lát, ông bảo: “Kỷ niệm thì nhiều, nhưng lâu ngày rồi, lúc nhớ lúc quên”. Tuy vậy, một lúc sau ông nhớ và kể: “Vào một ngày đầu năm 1968, đơn vị tôi làm nhiệm vụ bảo vệ thương binh ở trạm phẫu tiền phương thuộc tỉnh Quảng Nam. Suốt ngày quần nhau với bọn thủy quân lục chiến, những tưởng ta không giữ được, mọi người đang lo lắng thì tối đến, chúng rút quân, thế là đơn vị bảo vệ an toàn hàng trăm thương binh”. Dừng một lát, ông hỏi tôi: “Anh vào có bị trận đói nào không?”. Tôi cười: “Đói thì nhiều, cả chục ngày không có hạt gạo nào lót dạ dày cũng có”. Hồi ấy, lính sư đoàn 2 đói lắm. Lúc khó khăn nhất về lương thực, Bộ Tư lệnh sư đoàn mỗi ngày cũng chỉ một thau cháo loãng nấu bằng sắn với môn dóc, môn thục. Hồi đó, phòng hậu cần thương cán bộ sư đoàn, đề nghị: “Nếu bộ đội ăn rau rừng thì Bộ Tư lệnh ăn cháo, nếu bộ đội ăn cháo thì Bộ tư lệnh ăn cơm”. Đề nghị đó không được Bộ Tư lệnh sư đoàn chấp nhận, chi bộ phòng tham mưu phải ra nghị quyết: “Các đồng chí trong Bộ Tư lệnh phải ăn tối thiểu mỗi ngày một lon gạo (bằng 250 gam)”. Lẽ ra Bộ Tư lệnh phải chấp hành nghị quyết, nhưng chỉ xin hưởng một nửa, nửa còn lại dành cho thương binh nặng ở Bệnh xá sư đoàn. Mặc dù khó khăn vất vả, đói cơm, nhạt muối, nhưng cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đều tự nguyện rút bớt phần gạo ít ỏi và một phần sắn kiếm được chuyển cho bệnh xá để nuôi dưỡng thương binh.

Ông Ma Đức Cấn bị thương hai lần. Lần đầu vào năm 1967, trong một trận chiến đấu quyết liệt với bọn thủy quân lục chiến, bị thương vào bụng và cánh tay phải, vẫn còn nguyên vết sẹo to, dài đến gang tay, nay bị liệt không nhấc lên được. Lần thứ hai, năm 1972, đơn vị ông đánh vào quận lỵ Hoài Ân, tỉnh Bình Định, bị bom địch đánh sập hầm, thủng màng nhĩ, nay tai lúc nghe được, lúc không. Ông kể: “Hồi đánh vào quận lỵ Hoài Ân, ba ngày ba đêm, không có hạt cơm lót dạ, chỉ độc nước lã với ít lương khô, còn anh em thương binh, được “ưu tiên” thêm lon sữa bò. Khó khăn là vậy, mà vẫn thắng địch, thật là một kỳ tích!”.

Ông kể, khi còn ở sư đoàn 2, ông cùng đoàn cán bộ tiểu đoàn đi chuẩn bị đánh vào Khâm Đức, lúc chuẩn bị vượt đường cái, gặp bọn biệt kích, cũng may, chúng không phát hiện ra đội hình của đơn vị. Chiến đấu gian khổ, vào sống ra chết gần chục năm liền, vậy mà đến năm 1975, khi trở ra miền Bắc, ông vẫn đeo quân hàm thượng sĩ mà chẳng hề phàn nàn. “Đúng là lính Bác Hồ”-Tôi buột miệng nói như vậy. Ông cười sảng khoái, rồi kể tiếp: “Hồi tôi khoác ba lô về trại điều dưỡng ở Tuyên Quang, đến bến phà qua sông Lô, hai anh em gặp nhau mà không nhận ra. Mãi sau anh trai lại gần hỏi, lúc ấy mới nhận được nhau, thế là anh em ôm nhau khóc cả tiếng đồng hồ”. Câu chuyện ông kể thật xúc động. Ông đi bộ đội năm 1966, năm 1967 được kết nạp vào Đảng ngay tại chiến hào. Ông bảo: “Hồi đó bảo đánh là đánh, biết đâu là phấn đấu trở thành đảng viên. Khi ấy tiểu đoàn trưởng là ông Lương, ông quý tôi lắm và thường nói: “Cả đơn vị có mỗi mày là người Tày, tao thương mày lắm”. Vậy mà trong chiến dịch Mậu Thân 1968, tiểu đoàn trưởng Lương hy sinh. Đối với tôi đây là mất mát quá nặng nề”.

Cuối năm 1975, ông về quê, thôn Làng Há, xã Lam Vĩ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, rồi xây dựng gia đình, sinh được cháu trai vào năm 1976. Sau nhiều năm tham gia công tác địa phương, nay tuổi cao, sức yếu, ông mới xin nghỉ việc làng xã để chăm sóc vườn cây cho vui tuổi già, nhưng trong ông vẫn vẹn nguyên phẩm chất người lính “Sư đoàn thép” anh hùng.

Vợ người đã khuất

 

Tôi gặp chị Lý Thị Sắn, dân tộc Tày, người Làng Quyền, công tác ở Ban tuyên giáo huyện ủy Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, khi chị dắt chiếc xe đạp vào cơ quan huyện ủy để đưa chúng tôi ra nhà nghỉ của huyện. Suốt chặng đường từ Hà Nội lên Thái Nguyên, tôi được nghe các cán bộ ở cục Quân khí kể khá nhiều chuyện về chị, một cán bộ năng nổ, nhiệt tình, trách nhiệm với công việc. Hơn thế, chị còn là người vợ đảm, gánh vác công việc gia đình khi chồng đi công tác xa, nhất là từ khi anh mất. Chuyện rằng, năm 2004, khi cục Quân khí trở về nguồn, nghe chị Sắn bày tỏ nguyện vọng muốn đưa hài cốt của chồng từ miền Nam về quê chôn cất để tiện hương khói, cục Quân khí đã chỉ đạo tổng kho 767, phối hợp cùng với gia đình để đưa hài cốt Nông Văn Thự về quê.

Đại tá Lê Văn Thắng, bí thư đảng ủy, chính ủy tổng kho 767 kể rằng, ngày đi cất bốc mộ anh Nông Văn Thự có hàng chục cán bộ, chiến sĩ. Không kể đêm tối, đơn vị đốt đuốc, đào bới, cất bốc, cùng gia đình đưa hài cốt anh Thự về quê.

Tàu về đến Hà Nội, cục Quân khí điều xe, cử cán bộ ra tận ga tàu đón hài cốt Nông Văn Thự và gia đình về quê Lam Vĩ, nơi Cục đã được đồng bào các dân tộc nơi đây cưu mang, nuôi dưỡng trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Từ đó tình cảm giữa gia đình chị Lý Thị Sắn nói riêng và cán bộ, nhân dân xã Lam Vĩ nói chung với cục Quân khí càng thêm gần gũi, sâu nặng.

Ngày trước, khi còn công tác ở cơ quan đại diện của cục Quân khí tại Thành phố Hồ Chí Minh, anh Nông Văn Thự là chiến sĩ lái xe. Một lần đi vận chuyển dây thép gai về tổng kho 767, đến sông Đồng Nai, một chiếc xe đi ngược chiều, không hiểu vì xe mất lái hay người lái xe say rượu, mà để chiếc xe lừng lững lao thẳng vào đầu xe của anh. Thấy vậy, anh Thự nhanh chóng bẻ tay lái, không may, cả chiếc xe vận tải chở gần 5 tấn dây thép gai lao xuống sông Đồng Nai sâu hơn chục mét, chỉ có Nguyễn Văn Quang, trợ lý vật tư đi cùng lao ra khỏi xe, sống sót. Còn ba người đi cùng tìm không thấy xác, mãi chiều tối ngày hôm sau, đơn vị mới tìm thấy thi thể các anh ở cuối sông Đồng Nai, đưa về nghĩa trang chôn cất. Cho đến nay, Nông Văn Thự vẫn chưa được công nhận là liệt sĩ, nhưng cán bộ, chiến sĩ một thời sống với Nông Văn Thự vẫn coi anh là một liệt sĩ của cục Quân khí.

VĂN HƯỚNG