Với đồng bào dân tộc thiểu số người Gia-rai ở vùng biên giới thuộc các huyện Ia Grai, Chư Prông (Gia Lai), việc “bắt chồng” và làm đám cưới được cho là quan trọng nhất trên đời. Do đó, lễ cưới phải to, nhiều heo, bò, gà, vịt và đám cưới phải diễn ra hai, ba ngày liền thì vợ chồng sau mới hạnh phúc, gia đình mới sum vầy, giàu có. Đó cũng trở thành món nợ cho những gia đình nghèo khó, đi “cưới nợ” cho con. Nhưng đời con, nếu không hơn cha mẹ thì lại phải để nợ cho đời kế tiếp. Món nợ cứ thế truyền đời bởi lệ tục...
Chuyện một đám cưới “bắt chồng”
Rơ Châm H’Loan “bắt” Ksor Khôi về làm chồng được coi là đám cưới to nhất xã Ia O, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Người dân quanh vùng ước tính chi phí hơn 30 triệu đồng.
Để lo trọn đám cưới cho con gái, nhà Rơ Châm H’Loan gần như phải huy động tổng lực mọi nguồn tài sản. Khoản to nhất và quan trọng nhất là quà tặng. Theo lệ, Rơ Châm H’Loan phải biếu mỗi người trong họ nhà chồng, gồm anh, chị, em ruột chồng; anh, chị, em, chú, bác, cô, dì… của cha, mẹ chồng một bộ váy, khố truyền thống. Giá mỗi bộ hiện nay là 350.000 đồng. Chưa hết, những ai thuộc dòng họ Rơ Châm trong làng, H’Loan cũng phải có quà tặng. Vậy là riêng khoản quà, nhà H’Loan đã tốn không dưới 10 triệu đồng.
Xong khoản quà tặng, kế đến là khoản lễ vật. Lễ vật bất di bất dịch là 2 con bò - một để đưa mẹ chồng, một để “đốt’’(thui). Con đốt được chia như sau: đùi trước (kèm một ghè rượu) dành để đền ơn bà mối. Một nửa con còn lại cộng với tim gan là phần nhà chồng. Nhà gái chỉ được một đùi sau và những thứ “xương xẩu’’. Lễ vật chia xong, nhà gái phải lo toàn bộ thức ăn, thức uống trong suốt 2 ngày… Phải cần hàng chục ghè rượu, một con heo to và hàng chục cân thịt bò cho mọi người ăn uống no say, thỏa thích. Lệ người Gia-rai không có quà mừng đám cưới. Nhà gái phải lo mọi thứ cho chu đáo-thậm chí phải đổ xăng vào xe máy cho khách đến dự đi về. Một sự phục vụ thất thố có thể dẫn đến cãi vã, thậm chí là hủy đám cưới… Đóng góp vào sự tốn kém này, nhà trai chỉ có một con heo nhỏ gọi là “đốt để tiễn con trai” (về nhà vợ lâu dài).
Món nợ luân chuyển
Đám cưới Rơ Châm H’Loan là “đám cưới sạch” – nghĩa là cha mẹ đủ lực để lo trọn vẹn, không phải nợ nần gì bên họ nhà chồng…
…Sống với nhau hơn 13 mùa rẫy, đã có với nhau 3 mặt con, nhưng do nghèo quá không có “lễ vật” để làm đám cưới, sau gần 2.555 ngày cật lực lao động và tích lũy “quỹ hồi môn", đến đầu tháng 1-2007, vợ chồng Sui Thông – H’Puông ở Ia Mnông mới làm đám cưới… Căn nhà sàn không đủ chỗ cho dân làng kéo tới “chung vui”. Trong nhà, hai dãy ghè rượu hơn 30 chiếc nối nhau từ đầu đến cuối nhà sóng sánh men nồng. Dưới sân nhà, đã có 1 con bò, 1 con heo được thui để nhắm cho hết số rượu này trong vòng hai ngày… Hớn hở như cô dâu, chú rể mới cưới, Sui Thông đi phân phát quà cho họ hàng cha mẹ nhà mình. Đàn ông mỗi người một bộ quần áo. Phụ nữ mỗi người một bộ váy. Có đến 60 người phải phát quà mà hình như vẫn có sự thắc mắc bởi chốc chốc Thông lại cau mặt, làu bàu điều gì đó khi phải lấy quà tặng bổ sung…
Loay hoay đến lúc lên đèn, khách bập vào cỗ như tằm ăn rỗi, tôi mới kéo được Thông ra để hỏi chuyện. Sự ngạc nhiên của tôi bấy giờ mới được gỡ: Hóa ra đây là đám “Pô knô” (cưới lại) của vợ Thông…
- Hồi “bắt’’ mình nhà H’Puông nghèo lắm-Thông kể. Trước nó, trong nhà có của cải gì mấy chị gái lấy hết rồi. Nó “bắt’’ mình về chỉ có con gà với một ghè rượu thôi. Tục lệ người Gia-rai vùng này cho phép ai nghèo thì tạm làm đơn sơ thế cũng được. Tuy nhiên, toàn bộ nghi lễ đám cưới, quà tặng cho họ hàng nhà mình thì phải ghi lại đó. Không quy định bao nhiêu mùa rẫy nhưng khi nào đủ điều kiện thì phải cưới lại để trả nợ. Vợ chồng mình lo lắm. Cha mẹ thì già rồi. Lệ tục quy định: Nếu con gái chưa trả được nợ cưới, cha mẹ muốn làm lễ mừng thọ thì không được đốt bò; các đứa con sau muốn bắt vợ, bắt chồng cũng không được làm lễ cưới. Còn nếu lỡ mà chết đột ngột thì còn rầy rà to. Đã có người chết mà chưa trả được nợ cho con gái, họ nhà trai làm khó dễ không cho chôn rồi đấy! Nghĩ tội ông bà già với lũ em, vợ chồng mình bảo nhau cố làm, cố dành dụm. Nghĩ thì dễ nhưng làm đâu có dễ. Dư lon gạo thì tích lại để mua con gà. Từ con gà mới thành được con heo rồi lớn lên con bò… Gần hai chục triệu cho đám cưới trả nợ này, vợ mình phải mất 13 mùa rẫy mới có được đấy!”.
Thông dừng lại cầm tay vợ lắc lắc, đùa:
- Rồi còn bà này nữa chớ. Giả dụ nếu mình chết trước mà chưa trả được nợ thì nó cũng không được bỏ mả cho mình, và tất nhiên không được đi bắt chồng khác đâu!
Mọi người xung quanh cười ồ. Hình như vì quá vui, quá sung sướng nên vợ chồng Sui Thông lúc nào cũng hát và bắt tay mọi người, sau đó không bao lâu họ lại lẫn ngay vào cái không gian đặc quánh mùi rượu và khói thuốc, quên cả mời khách cang rượu cần như sự hiếu khách vốn có của người Gia-rai…
Chuyện người lấy vợ muốn bị phạt
Ksor Lưu ở xã Ia Mơnông lấy vợ, người cùng địa phương. Nhà vợ nghèo, lo xong đám cưới cho con gái thì của nả chẳng còn gì nữa; đến gạo cũng phải đi xin họ hàng. Đói quá Lưu phải về xin mẹ và chị gái giúp đỡ. Nhà thì giàu nhưng chẳng ai cho một thứ gì bởi theo lệ ông bà, con trai đã về nhà vợ tức là chết sống do nhà vợ, không được đưa của nhà mình đi…
Có lẽ không chịu nổi nên người trong làng thấy Lưu đùng đùng bỏ về nhà mình và tuyên bố bỏ vợ! Luật tục đã rõ ràng: Bỏ vợ mà không có lý do chính đáng (lý do chính đáng duy nhất là ngoại tình) thì phải đền toàn bộ chi phí đám cưới cho gia đình nhà vợ. Lưu không có tài sản gì, tất nhiên là mẹ và chị gái phải đền. Sau khi thỏa thuận và được già làng chấp thuận, nhà Lưu phải “đền” cho chi phí đám cưới được tính bằng 5 con bò…
Nhưng nhà vợ mới dắt bò về hôm trước, hôm sau đã thấy Lưu trở về với vợ (!). Về cũng được nhưng mà phải chịu phạt. Mức phạt được già làng ấn định là 1 con bò. Lưu chịu ngay! 5 con bò nhà vợ dắt về, Lưu đốt một con tạ lỗi hai họ. Mọi người lại vui vẻ. Chuyện lục đục cũ lập tức tan biến vào cuộc rượu…
- Thằng khôn thật! - Cả buôn Dú bấy giờ mới té ngửa khi nhận ra việc Lưu bỏ vợ hóa ra là giả vờ nhằm đòi lại của cho vợ mình. Một cách “lách luật” quá là khôn khéo!
- Biết thì biết vậy nhưng chỉ để bụng, không ai dám theo đâu! – Rơ Lan Hứ lắc đầu - Xã mình có hơn 700 thanh niên, 320 đoàn viên. Họ còn trẻ, có nhận thức mà mình vận động miết cũng không ai chịu nghe. Cái khó không chỉ là sự ràng buộc của luật tục, người ta còn coi đó là danh dự của mỗi dòng họ, mỗi gia đình. Nhưng dù cố mà lo cho đến kiệt sức thì theo chế độ mẫu hệ, đồng bào thường có nhiều con gái nên chỉ trừ những gia đình ít con hoặc giàu có, phần nhiều hoặc là để nợ cho con hoặc truyền lại đời con một căn nhà trống rỗng… Còn người đàn ông, một khi đã bị “bắt’’, dù cuộc sống không hạnh phúc thì cũng đành cam chịu, bởi nếu ly dị vợ không những họ phải tay không đi khỏi nhà mà còn phải đền món nợ cưới kia. Đã cam chịu là đồng nghĩa với sự thui chột khát vọng vươn lên của kẻ mạnh trong nhà… Món nợ cưới hóa ra là một sợi dây vô hình buộc chặt con người trong bao nhiêu là mối quan hệ. Nó làm cái nghèo lại đẻ ra cái nghèo. Một bộ phận đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung, Gia Lai nói riêng cứ nghèo mãi cũng là vì vậy…
Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội xem ra chưa đến được bao nhiêu với đồng bào dân tộc thiểu số ở những nơi này, thì dám làm như Ksor Lưu cũng chỉ mới là một tiếng chim lẻ loi gióng lên trong cái lồng luật tục…
LÊ QUANG HỒI