QĐND - Đó là câu chuyện về một đạo quân đặc biệt, một binh chủng đặc biệt. Và là câu chuyện có một không hai trong lịch sử chiến tranh, lịch sử báo chí thế giới. Một tờ báo 33 số được xuất bản ngay giữa chiến trường, cách tầm pháo địch chưa đầy 70km mà bộ máy thực hiện chỉ có 5 người. Hai nhà báo lão thành Phạm Phú Bằng và Nguyễn Khắc Tiếp - những chứng nhân lịch sử trong số 5 người làm báo ngày ấy đã dẫn chúng tôi về lại chiến trường xưa để cùng khắc họa lại câu chuyện “cổ tích” 60 năm trước.

Những nhân chứng cuối cùng

Hà Nội, ngôi nhà số 7 Phan Đình Phùng, trụ sở Báo Quân đội nhân dân buổi sáng một ngày cuối tháng hai năm 2014. Một cụ già tóc bạc trắng, lưng đeo ba lô nai nịt, tay cầm cây gậy tre có mặt từ sáng sớm.

Ở tuổi 85, bước chân người lính già qua con phố nhỏ từng in dấu chân bao bậc tiền nhân vạn dặm trường chinh. Và bước chân ấy, hôm nay, vẫn hồi hộp cảm xúc giống như biết bao lần ông khăn gói lên đường ra trận cùng cây bút. Ông là Đại tá, nhà báo Phạm Phú Bằng, người phóng viên kỳ cựu 85 tuổi đời, 65 năm phục vụ trong quân ngũ, người lính cầm bút đã đi theo 4 cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đầy máu và nước mắt.

Nhà in tại Mặt trận trong các chiến dịch thời 1950-1954. (Ảnh tư liệu).

Theo lời thỉnh cầu đầy tâm huyết của Trung tướng Lê Phúc Nguyên, Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân, sau 60 năm, ông lại lên đường đưa những nhà báo thuộc thế hệ con, cháu mình trở lại chiến trường Điện Biên Phủ, để “vừa đi đường vừa kể chuyện”, một câu chuyện cổ tích mà ông đang là những nhân chứng cuối cùng còn sống. Chỉ tiếc là người cộng sự của ông, nhà báo Nguyễn Khắc Tiếp ở tuổi 91 cũng “khát” đi chuyến này lắm nhưng thân gầy mình hạc, sức yếu, cụ bà “kiên quyết” “cấm trại” ông.

Năm nhà báo được giao trọng trách tổ chức tòa soạn ngoài mặt trận ở Điện Biên Phủ, sau một vòng hoa giáp 60 năm, đến nay, chỉ còn Phạm Phú Bằng và Nguyễn Khắc Tiếp. Cách đây 3 năm, nhà báo Nguyễn Khắc Tiếp đã lên đường trở lại Điện Biên, băng qua những quả đồi, những thửa ruộng theo trí nhớ, tìm lại chính xác nơi đặt tòa soạn. Lén xem túi vải của nhà báo Phạm Phú Bằng, tôi giật mình thấy lỉnh kỉnh toàn thuốc xanh, đỏ, tím, vàng mà bà đã gói buộc chia thành nhiều gói nhỏ, cho ông uống từng bữa. Hôm trước, Ban Biên tập sợ ông tuổi cao sức yếu, đề nghị ông lên Điện Biên bằng máy bay nhưng ông gạt đi:

- Không! Cho tôi đi ô tô! Tôi vẫn là người lính, còn sức thì còn đi trong đội hình cùng đồng đội!

Bậc cửa xe khá cao, chúng tôi phải dìu ông bước lên xe. Chiếc xe 16 chỗ từ từ rời Hà Nội, thẳng đại lộ Thăng Long vượt Xuân Mai xuôi Hòa Bình trong cảm xúc lâng lâng khó tả của từng người. Đôi mắt nhà báo lão thành như rưng rưng những kỷ niệm dội về.

Nhà báo Phạm Phú Bằng cho biết, tòa soạn tiền phương ở Chiến dịch Hòa Bình từng được tổ chức năm 1951. Ảnh: Văn Minh.

 

Dấu ấn Mai Châu

Xe tới huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình, nhà báo Phú Bằng bất ngờ ra lệnh dừng xe. Nơi dừng chân là một điểm cao ven Quốc lộ 6, ngành du lịch địa phương đã cho xây một cột cờ, có thể phóng tầm mắt nhìn ra những dãy núi trùng điệp, những cánh đồng bậc thang thơ mộng. Cánh phóng viên trẻ ngơ ngác:

- Thưa bác! Toà soạn mình ngày đó làm báo ở mãi Điện Biên cơ mà?

- Thì ít ra các anh cũng xuống đây mà ngắm để hiểu vì sao ngày xưa Quang Dũng viết “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” chứ? Nhưng còn một điều quan trọng hơn. Không có Hòa Bình, không có Điện Biên Phủ. Và Báo Quân đội nhân dân trước Điện Biên Phủ từng tổ chức đi chiến dịch và làm báo ở Hòa Bình.

Một chi tiết khiến chúng tôi ngỡ ngàng. Chỉ tay về phía những quả đồi xa xăm, Đại tá Phạm Phú Bằng nói:

- Chiến dịch Hòa Bình được mở vào tháng 11-1951 cũng là lần thứ 5 Báo Quân đội nhân dân tổ chức lực lượng đi theo chiến dịch để xuất bản báo ngay tại mặt trận. Chiến dịch được Bác Hồ nhấn mạnh: “Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh”.

Lúc bấy giờ, Đờ-tát-xi-nhi, Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã đem 20 tiểu đoàn, gồm phần lớn lực lượng cơ động chiến lược đánh chiếm Hòa Bình, nhằm chia cắt đường tiếp tế của ta. Tổng quân ủy và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình. Và giống như 4 chiến dịch lớn trước, Báo Quân đội nhân dân đều được giao nhiệm vụ triển khai tòa soạn ở chiến trường để ra báo ngay tại mặt trận. Đồng chí Hoàng Xuân Tùy vừa được điều về làm Thư ký tòa soạn đã lập tức lên đường với tư cách kiêm Trưởng ban Tuyên huấn Mặt trận. Phóng viên đi cùng có hai người là Phạm Phú Bằng và Nguyễn Khắc Tiếp. Ngoài ra còn có bộ phận nhà in gồm 25 người do đồng chí Nguyễn Ninh Thị phụ trách.

 “Các chiến dịch trước đó đều ra được báo cả nhưng Chiến dịch Hòa Bình thì không, vì diễn biến phức tạp, khẩn trương, địa hình phức tạp, chưa ra kịp báo ngoài mặt trận để phục vụ bộ đội. Tuy vậy, ở tòa soạn trên Việt Bắc do anh Trần Cư phụ trách, từ bài vở chúng tôi gửi về cũng đã có nhiều bài báo phản ánh sâu sắc về Chiến dịch Hòa Bình” - Nhà báo Phạm Phú Bằng kể lại. Trong những bài báo này, có thể kể ra nhiều bài ấn tượng như “Đội du kích Mường trên đường số 6”, “Gương chiến đấu của đồng bào Mường Mán ở Hoà Bình”…

Lần đầu ra trận - xe bò chở nhà in

Ai là người nghĩ ra hình thức tổ chức lực lượng tòa soạn ngay tại chiến trường và xuất bản ngay tại mặt trận? Mô hình tòa soạn theo chiến dịch thường ra sao?

“Tìm câu trả lời ai là người nghĩ ra hình thức tổ chức tòa soạn ngoài mặt trận-một hình thức truyền thông táo bạo hiếm có trong lịch sử chiến tranh có lẽ là rất khó. Nhưng tôi nghĩ đó là chủ trương chung của Tổng quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, có sự chỉ đạo chặt chẽ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp” - Nhà báo Phạm Phú Bằng khẳng định.

Cuốn lịch sử Báo Quân đội nhân dân (1950-2010) còn ghi về lần đầu tiên Báo tổ chức tòa soạn đi theo chiến dịch là mùa hè năm 1950, sau ta mở Chiến dịch Biên giới: “Hồ Chủ tịch chỉ thị: “Chiến dịch này chỉ cho đánh thắng, không cho đánh bại”. Đầu tháng 8-1950, đồng chí Tổng tư lệnh cùng cơ quan Bộ chỉ huy chiến dịch lên đường ra mặt trận. Tòa soạn cũng hòa trong bầu không khí chuẩn bị chiến dịch sôi nổi đó. Một số phóng viên vừa trở về hoặc đang trên đường trở về tòa soạn mới đã được lệnh quay trở lại mặt trận”. Chính trong những ngày này, phóng viên Thâm Tâm - tác giả bài thơ Tống biệt hành nổi tiếng đã anh dũng hi sinh trên đường quay lại mặt trận sau khi dự lễ ra mắt tòa soạn. Theo nhà báo Phạm Phú Bằng, Chiến dịch Biên giới với tầm quan trọng chiến lược của nó cũng là chiến dịch mở ra nhiều “tiền lệ” về lãnh đạo, chỉ huy cũng như công tác tuyên truyền. Đây là chiến dịch đầu tiên Bác Hồ, trên cương vị chủ tịch nước, thống lĩnh các lực lượng vũ trang trực tiếp ra trận. Đây cũng là lần đầu tiên tờ báo hợp nhất của quân đội quốc gia được giao nhiệm vụ xuất bản ngay tại mặt trận.

Cho nên, về mô hình, “bộ máy” tòa soạn, ngoài các phóng viên đi chiến dịch còn có 12 người làm công tác in ấn và 10 người làm công tác phát hành. Máy móc, vật tư in ấn gồm một máy in National, 30 hộp chữ chì, hơn 100.000 tờ giấy, 10 kg mực in… được xếp lên 3 chiếc xe bò phủ kín vải bạt. Cả người và bò thay nhau kéo đẩy một tháng trời mới tới vị trí tập kết.

Ngày 14-10-1950, Chiến dịch Biên giới kết thúc thắng lợi thì 6 ngày sau, Báo Quân đội nhân dân ra số đầu tiên, sau 3 tháng chuẩn bị. Tờ báo mau chóng được bộ đội và nhân dân hân hoan đón nhận. Có một câu chuyện cảm động được ghi lại, hiểu điều kiện làm báo vất vả, trước khi báo in số 2 vào ngày 10-11-1950, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh đã đến làm việc với tòa soạn và có lời động viên bất hủ: “Đảng đã giao công việc, chúng ta phải nghiến răng lại mà làm, phải “cướp” lấy thời gian”.

Tám lần tổ chức tòa soạn tiền phương

Lần “xuất quân” thứ hai vào cuối tháng 11-1950, ta mở Chiến dịch Trần Hưng Đạo. Nhà báo Phạm Phú Bằng đã có lần nhập cuộc nghề báo đầy duyên nợ: “Nghe tin quân ta sẽ mở tiếp chiến dịch mới, ai cũng “đoán già đoán non” rằng sẽ có một bộ phận được cử đi phục vụ chiến dịch và hồi hộp xem mình có được đi hay không. Tôi lúc đó là phóng viên trẻ mới được cử ở đơn vị về báo đã may mắn được lên đường. Phóng viên cùng đi đợt này với tôi còn có các anh Lê Phong, Vũ Tú Nam. Trước khi lên đường, tôi may mắn được Cục trưởng Cục Tuyên huấn Lê Quang Đạo gọi lên giao nhiệm vụ và ký giấy giới thiệu với chức vụ là “Tùy quân ký giả” và được đi theo mũi chủ công của Trung đoàn 102, Đại đoàn 308 tham gia chiến dịch”. Lần này, Báo Quân đội nhân dân đã cố gắng phát hành mỗi kỳ vài nghìn bản, đáp ứng được phần nào nhu cầu bộ đội đang rất lớn, thật sự là món ăn tinh thần “của hiếm” giữa chiến trường.

Tháng 3-1951, Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (đường18) mở, báo tiếp tục cử lực lượng đi chiến dịch. Dọc đường hành quân vất vả, phóng viên phải cởi bỏ áo mưa, chăn màn để bọc giấy bút. Tại trận đánh đồn Bí Chợ, phóng viên Phạm Phú Bằng không chỉ viết bài mà còn giúp bộ đội Trung đoàn 102 dùng tiếng Pháp kêu gọi lính Ma-rốc hạ vũ khí và giúp phá hủy một xe gip.

Ngày 20-4-1951, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Quang Trung đánh địch trên 3 tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình. Vừa trở về từ mặt trận Đường 18, những phóng viên lại lên đường ra trận.

Tháng 11-1951, Báo Quân đội nhân dân tổ chức lực lượng đi theo Chiến dịch Hòa Bình.

Tháng 9-1952, ta mở chiến dịch Tây Bắc, nhóm phóng viên ra trận gồm: Hoàng Xuân Tùy, Trần Cư, Phú Bằng…Ông Hoàng Xuân Tùy tiếp tục được cử làm chủ bút kiêm Trưởng ban Tuyên huấn chiến dịch.

Tháng 2-1953, ta mở chiến dịch Sầm Nưa ở Thượng Lào, địch rút chạy quá nhanh, nhóm phóng viên bám theo các mũi truy kích địch khẩn trương nên báo đã không kịp ra số phục vụ bộ đội tại mặt trận. Tuy vậy, bộ phận nhà in đã lập thêm chiến công khi sau chiến dịch có 8 người ở lại giúp bạn xây dựng cơ sở in tại Sầm Nưa.

Cuối năm 1953, ta mở Chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954, quân Pháp nhảy dù xuống chiếm Điện Biên Phủ. Báo Quân đội nhân dân lại tổ chức tòa soạn đặc biệt đi theo chiến dịch. Lần xuất quân thứ 8 này đã trở thành lần xuất quân lớn nhất, đặc biệt nhất và lập công xuất sắc nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhóm phóng viên lên đường đông hơn thường lệ, nhưng cũng chỉ có 5 người, gồm: Hoàng Xuân Tùy (Phụ trách toà soạn kiêm Trưởng ban Tuyên huấn mặt trận), Trần Cư (Thư ký tòa soạn), Nguyễn Khắc Tiếp (phóng viên), Phạm Phú Bằng (phóng viên), Nguyễn Bích (họa sĩ)… Cuối chiến dịch, tòa soạn bổ sung thêm phóng viên Nguyễn Trần Thiết.

“Ngay từ đầu Chiến dịch Điện Biên Phủ, theo chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Chí Thanh, đã quyết định đưa tờ báo xuất bản ở mặt trận, đưa đến tận tay chiến sĩ. Cấp trên luôn coi nó như một binh chủng đặc biệt, do vậy mới cho nó ra mặt trận. Trong lịch sử báo chí thế giới, không có tờ báo nào xuất bản ngoài mặt trận, chỉ có phóng viên chiến trường thôi. Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, tờ báo nằm bên Tổng quân ủy, được chỉ đạo sát sao của Tổng quân ủy thì chỉ có Báo Quân đội nhân dân thôi” - Nhà báo Khắc Tiếp khẳng định. (Còn nữa)

Ghi chép của NGUYÊN MINH