Đó là ông Trần Đức Mô ở xóm 2, xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Ông nổi tiếng trong làng bởi tấm lòng chữa bệnh cứu người nghèo và những tác phẩm văn chương do chính đôi tay cụt viết nên mang đậm tình yêu quê hương đất nước.

Những ngày gian khó

Chúng tôi đến nhà ông Trần Đức Mô vào một buổi chiều ấm áp, ngôi nhà cấp bốn nằm sâu trong một con ngõ nhỏ. Ông già 64 tuổi với dáng người cao cao, nước da ngăm ngăm và đôi tay cụt lên đến gần khuỷu vẫn làm được rất nhiều việc, khiến nhiều người phải nể phục.

...Trần Đức Mô sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo vùng chiêm trũng, nơi Nam Cao đã từng sống và viết về những con người bần cùng trong xã hội... mà điển hình là tác phẩm “Chí Phèo”.

Ông Mô đang sáng tác

Mặc dù nhà nghèo nhưng từ thủa nhỏ cậu bé Mô đã rất ham học, năm nào cũng đạt học sinh tiên tiến. Đang học dở lớp 10 trường cấp 3 Vĩnh Trụ thì năm 1965 theo tiếng gọi của Tổ quốc, Trần Đức Mô “gác bút nghiên” cùng 40 thanh niên trong làng  gia nhập quân đội để bảo vệ quê hương đất nước. Ba tháng đầu ông chiến đấu ở Trung đoàn 318, thuộc Sư đoàn 361 Quân chủng Phòng không - Không quân bảo vệ sân bay Đa Phúc 3 (sân bay Nội Bài). Trong những năm tháng đó đế quốc Mỹ điên cuồng đánh phá miền Bắc.

Đến tháng 9-1965, ông được cử sang Trung đoàn 285 (đơn vị tên lửa) thuộc khu Bốn và làm tiểu đội trưởng. Nhiệm vụ của ông lúc này rất quan trọng, đó là “vẽ đường bay” chỉ huy đội bay không chạm trán với quân địch nhằm phá vòng bao vây của địch.

Ông vui sướng được kể về những trận đánh ác liệt của mình cùng đồng đội như trận đánh ở Hà Nội, Hải Phòng (ngày 30, 31-5-1965) bảo vệ cơ quan đầu não của Đảng; trận đánh ở Việt Trì (Phú Thọ), Tuyên Quang... Ông tâm sự: “Tôi còn nhớ rất rõ những ngày đó súng nổ vang trời, quân địch đánh phá, bao vây, nhưng chúng ta thì thật dũng cảm, quyết tâm chiến đấu. Thật là cảm động trước sự hy sinh thầm lặng của  đồng đội. Để có được chiến thắng hôm nay, dân tộc ta đã phải đổi bằng xương bằng máu”.

Kể tới đây, ông rơm rớm nước mắt. Hai đầu tay kẹp chén nước chè xanh, nhấp một chút cho đỡ khô họng, ông nói thêm: “Đã có thời kỳ do tính chất công việc mà hơn một  năm đơn vị chúng tôi  không nhận được tin tức gì về người thân, mặc dù đóng quân ngay sát Hà Nội. Tuy vậy, mọi người vẫn toàn tâm, toàn  ý chiến đấu làm tròn nhiệm vụ được giao”.

Năm 1966, ông được kết nạp Đảng, nhưng do sức yếu  phải rời quân ngũ, phục viên về quê. Sau ba năm, ông lập gia đình với bà Trần Thị Nguyệt. Ông, bà đã sinh được hai người con trai và một con gái. Không chịu “chôn chân” ở nhà, năm 1971, ông xin làm công nhân ở Công ty xây lắp 1 Nam Hà rồi đi học trung cấp xây dựng. Với sự kiên trì, ham học hỏi và kiên nhẫn vốn có của người lính, ông được giữ lại làm giảng viên của trường.

Tưởng chừng sự nghiệp bắt đầu từ đây để lo toan cuộc sống gia đình, nhưng thật không may, tai họa đã ập đến đời ông. Đó là vào một ngày tháng 4-1985, cái ngày đen tối đã cướp đi đôi bàn tay của ông, làm ông chết lặng trong đau đớn. Ông kể với tôi: “Hồi đó tôi giúp làm nhà cho ông Trần Văn Thâm, Bí thư Đảng ủy xã Hòa Hậu, nhưng thật không may dòng điện cao thế 35kw rơi xuống đúng hai cánh tay. Bị điện giật bỏng nặng quá, tôi phải cưa mất đôi bàn tay, may mà không chết là còn phúc”. Những năm tháng này ông phải vật lộn với sự đau đớn, kinh tế gia đình lại rất khó khăn. Mọi công việc lớn nhỏ đều dồn hết lên đôi vai của người vợ trẻ từ miếng cơm, viên thuốc vừa nuôi con, vừa chăm chồng.

Ông phân trần: “Thế là tôi tưởng đời tôi đã hết, tôi thường nghĩ là người chồng, người cha mà không lo được cho vợ con thì chết đi cho rồi. Nhưng bằng tình thương của người vợ, tiếng khóc của những đứa trẻ thơ đã kéo tôi lại với cuộc đời”.

Hỏng đôi tay, còn đôi mắt

Người đời đã từng nói: “Giàu hai con mắt, khó đôi bàn tay”. Hiểu về câu nói đó, ông càng có nghị lực. Biết bao nhiêu người mù cả đôi mắt mà họ vẫn làm được nhiều việc, thậm chí có người còn làm nên cả những điều kỳ diệu mà người sáng mắt không làm được. Ông thì chỉ mất đi đôi tay, mà vẫn còn đôi mắt sáng. Nghĩ thế ông quyết tâm phải làm một cái gì đó không để mình trở thành người vô dụng, một người  thừa trong cuộc sống này.

Với đôi tay cụt, ông bắt đầu tập cầm mọi vật mà ông phải thường sử dụng  hằng ngày, như cầm cái xẻng bằng cách kẹp vào nách, cầm  con dao thì dùng hai tay kẹp lại. Thế là sự kiên trì tập luyện hàng ngày của ông cũng đạt được kết quả. Điều thật bất ngờ và khâm phục hơn khi chúng tôi được chứng kiến ông cầm bút viết trên trang giấy với những dòng chữ thẳng tắp và rất đẹp.

Ông tâm sự: “Lúc đầu có muốn viết cái gì đó thường phải nhờ cô con gái viết hộ và nhiều lần như thế thấy không tiện nên tập tự cầm bút viết từng chữ, từng chữ một, có khi viết đến nỗi đôi cùi tay sưng tấy đỏ nhưng vẫn quyết tâm”. Trải qua nửa tháng học viết, chữ của ông cũng “tròn vành rõ nét”.

Tôi hỏi: “Ông viết bằng cùi tay mà  chữ  đẹp thế?”. Ông không trả lời mà chỉ cười rất hiền…

Chuyện ông viết truyện ngắn, sáng tác thơ cũng chỉ là sự tình cờ. Ông kể, ông có rất nhiều truyện ngắn của nhà văn Nam Cao. Dịp bị tai nạn, ông có rất nhiều thời gian để đọc những tác phẩm của nhà văn. Rồi không biết có phải nhờ đó mà thôi thúc ông cầm bút làm thơ, viết truyện ngắn… Ông cũng thường khai thác về khía cạnh người nông dân nghèo khổ, rồi viết về tình yêu quê hương đất nước. Lúc đầu ông sáng tác chỉ để hết thời gian, cho đỡ buồn. Nhưng càng sáng tác càng say sưa. Bạn bè, anh em, đồng chí đồng đội đến chơi ông đọc cho họ nghe, người ta khen hay, lại càng khuyến khích ông tiếp tục sáng tác.

Tác phẩm đầu tay của ông là tập truyện “Bến Lỡ” xuất bản năm 2000, tiếp sau đó là tập truyện “Miền quê trăn trở” xuất bản năm 2004 và tập truyện ngắn sắp xuất bản “Dòng đời rong ruổi”. Ngoài những truyện ngắn  ông còn  đang sáng tác tập thơ “Tình đất, tình người”. Ngôn ngữ thể hiện trong những sáng tác của ông rất mộc mạc và giản dị, đậm tình quê hương, đất nước. Một tiếng chim kêu, một tiếng gà gáy... được ông miêu tả một cách chân thực thành những vần thơ.

Ông đưa cho chúng tôi xem tập thơ “Tình đất, tình người” sắp xuất bản gồm hơn một trăm bài thơ, mỗi bài có một nét thể hiện độc đáo và có ý nghĩa triết lý nhân văn. Chính những sáng tác đầu tay thành công đã tiếp cho ông rất nhiều nghị lực.

Và thật là một điều khó tin, mà trong mơ cũng chưa bao giờ ông thấy: Từ năm 1999 đến năm 2008, ông liên tục nhận được bằng khen do Hội Văn học nghệ thuật trao tặng trong cuộc thi sáng tác văn học; bằng khen của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trao tặng trong cuộc thi tìm hiểu 60 năm nước CHXHCN Việt Nam; Bằng khen của Ban Tư tưởng - Văn hóa (Ban Tuyên Giáo) Trung ương, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng cục Chính trị về các tác phẩm tham gia  cuộc thi tìm hiểu “Âm vang Điện Biên”.

Không chỉ sáng tác, ông còn nghiên cứu tìm hiểu sách đông y và tự tìm ra nhiều bài thuốc chữa bệnh tại nhà. Các loại bệnh mà ông nghiên cứu như: cảm cúm, dạ dày... Lúc đầu chưa quen, nên rất ít người đến chữa bệnh. Nhưng với lòng kiên trì, hơn nữa ông chữa cho những bệnh nhân nghèo không tiền công, thậm chí còn cho cả thuốc, nhưng quan trọng hơn là đã chữa khỏi bệnh cho nhiều người nên ngày càng có nhiều người tìm đến xin chữa bệnh.

Ông nói: “Làm nghề gì thì làm, quan trọng là phải có cái tâm, cái đức”. Trong tập thơ “Tình đất, tình người” có rất nhiều bài viết về những kỷ niệm. Ví dụ ông viết bài thơ về “thuốc tốt”: Say mê làm thuốc tại nhà/Làm nhiều thuốc tốt bán ra thị trường/Đậm đà bản sắc quê hương/Người người khỏi bệnh thập phương sum vầy.

Ông sáng tác rất nhiều thơ theo thể lục bát. Cuộc đời đã lấy đi đôi bàn tay của ông nhưng bù lại cho ông “đôi cánh tay sáng”, sức khỏe kiên cường để chiến thắng thương tật, vượt lên hoàn cảnh, số phận để giờ đây làm được những việc có ích cho đời.

Tiễn chúng tôi ra sân, nhìn  khu vườn trước cửa xanh mướt đầy trái thơm, quả ngọt mà công chăm sóc, vun trồng là do đôi tay  không còn lành lặn của ông. Tôi chợt nhớ câu ông nói: “Đã làm thuốc, chữa bệnh cứu người thì phải có tâm, đừng nặng đầu về những toan tính thiệt hơn. Nếu không có tình yêu thương con người thì đừng bao giờ làm nghề cứu người, đừng bao giờ viết văn làm thơ”.

Bài và ảnh: PHẠM ĐÌNH THỦY