 |
|
Ông Trần Ngọc dung và các tác phẩm tiếng Lào được ông dịch sang tiếng Việt
|
Chúng tôi đến nhà ông Trần Ngọc Dung ở 64/57 Trần Cao Vân, thành phố Đà Nẵng, người được đồng đội gọi yêu là “nhà Lào học’’ bởi sự gắn bó và đóng góp của ông đối với xứ sở Chăm-pa.
Quê ở Bình An (Thăng Bình, Quảng Nam), là “hạt giống đỏ” ở địa phương, ông Dung được tổ chức chọn đi học trường Trung học Bình dân Trung Bộ tại Quảng Ngãi. Ra trường đầu năm 1950, ông xung phong đi Hạ Lào và được phân công làm chính trị viên, dẫn một trung đội gồm 2 tiểu đội dân vận và 1 tiểu đội quân nhu đi giúp bạn. Đường đi muôn vàn khó khăn. Mọi người phải đi ngược lên các vùng rừng núi của Quảng Nam để băng qua dải Trường Sơn. “Vốn lận lưng” là một tuần học tiếng Lào ở trong nước để vừa đi, vừa tìm đường đến tỉnh A-tô-pơ. Ý thức về nhiệm vụ của người lính tình nguyện cộng với vốn văn hóa đã học đến lớp 6, nên ông rất chú tâm học tiếng Lào và học rất say mê. Chỉ sau một tuần đã nói được những từ thông thường, qua 3 tháng đã dịch được cho đoàn đi sau. Kết quả này còn có công của một bà mẹ Lào dạy ông học tiếng, rồi nhận làm con nuôi, thương yêu như ruột thịt, đặt cho ông cái tên rất có ý nghĩa: Bây Xĩ (chiếc lá có nhiều màu), sau này trở thành bút danh khi ông viết văn, thơ và dịch thuật.
Làm cán bộ vận động quần chúng phụ trách 6 thôn của bản Hạt Nhao, huyện Xà-nam-xây, rồi phụ trách cả vùng nam huyện Phia Phây của tỉnh A-tô-pơ, những năm sau về tỉnh Chăm-pa-xắc, ở đâu ông cũng bám đồng bào, bám địa bàn, tích cực tuyên truyền vận động, củng cố cơ sở vùng địch hậu, tập hợp các đoàn thể cứu quốc ở từng bản tham gia cứu quốc, chuẩn bị chiến trường cho bộ đội phản công, giải phóng đất nước khỏi sự kìm kẹp của thực dân Pháp. Nhân dân Lào rất yêu quý người lính tình nguyện, thường xuyên bảo vệ, chở che, làm tai mắt cho cán bộ khi địch càn. Các tháp canh của địch ở đường 13 dày đặc như vậy mà nhiều lần các gia đình cơ sở làm nghề chài lưới đã dùng thuyền chở ông vượt sông Mê-công an toàn. Lại có lần khi trung đội vũ trang tuyên truyền do Trung đội trưởng Trần Phú (sau này là đại tá, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Quân khu 5) đi từ huyện Pát-sắc đến xã U-thôm thì trúng bom địch. Được ông vận động, bà con nhanh chóng chôn cất liệt sĩ và khiêng thương binh đến nơi an toàn. Ơn nghĩa ấy làm ông nhớ mãi.
Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, ông được cấp trên phân công tiếp tục ở lại giúp bạn. Từ năm 1956 ông công tác ở Ban Tuyên huấn Trung ương Lào đến năm 1958 mới về nước dạy tiếng Việt cho học sinh trường nội trú Lào ở Thái Nguyên suốt 16 năm. Duyên chữ nghĩa khiến ông trở thành chuyên viên Bộ Giáo dục, sau đó chuyển về làm Chủ nhiệm khoa Văn trường Cao đẳng Sư phạm Đà Nẵng. Ngỡ đã chia tay với nước Lào, đến năm 1980, ông lại được mời về Ban đại diện Lào tại Đà Nẵng, rồi chuyên viên Ban kỹ thuật đối ngoại tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng (cũ) cho đến khi nghỉ hưu năm 1988. Ông đã được Nhà nước Lào tặng huân chương Tự do hạng nhất và nhiều huân chương cao quý khác.
Nặng lòng với đất nước Lào nên làm được gì cho bạn là ông làm, dù tuổi già sầm sập đến. Không còn bận bịu việc chuyên môn, ông bắt đầu làm công việc mà ông đau đáu lâu nay đó là dịch các tác phẩm Lào sang tiếng Việt. Sách Lào hay mà ít người biết, điều này thôi thúc ông tâm huyết với từng trang sách, có khi thức thâu đêm cùng các mẫu tự. Đến nay ông đã dịch hơn 30 tác phẩm Lào ra tiếng Việt gồm lịch sử văn hóa Lào, thơ, sách tự học tiếng Lào, tiểu thuyết và hàng chục truyện cổ tích dành cho thiếu nhi. Hầu hết các tác phẩm đều được Nhà xuất bản Đà Nẵng in, phát hành. Những cuốn sách này ông có được qua những chuyến đi Lào được bạn bè tặng, hoặc ông tự mua. Có những quyển ông đã tâm đắc từ thời còn làm người lính tình nguyện. Riêng cuốn lịch sử Lào ông tham gia dịch nhiều năm, dày 1.500 trang đang được hiệu đính, in ấn bên nước bạn. Ông cũng làm rất nhiều thơ về tình hữu nghị Việt-Lào. Ông dịch các tập thơ, truyện về tình hữu nghị hai nước sang tiếng Lào rất được bạn hoan nghênh. Khi còn khỏe, ông giúp dịch thuật các văn bản tiếng Lào, mở lớp dạy tiếng Lào tại nhà cho những người có nhu cầu; dạy tiếng Việt cho cán bộ Lào ở Tổng lãnh sự quán tại Đà Nẵng. Hiện nay ông là tổ trưởng Chi hội hữu nghị Việt-Lào khu vực Thanh Khê, Liên Chiểu, Hải Châu với hơn 50 hội viên, thành viên Ban liên lạc tình nguyện quân tại Đà nẵng. Vào ngày Tết Lào 15 đến 17-4 dương lịch và Quốc khánh Lào 2-12, Hội lại tổ chức thăm cơ quan Tổng lãnh sự Lào tại Đà Nẵng, hát và múa lăm-vông suốt mấy ngày.
Điều ông Trần Ngọc Dung tự hào nhất là những người bạn Lào luôn nhớ ông và luôn dành cho ông tình cảm kính trọng, chân tình. Những lớp học sinh Lào ông dạy năm ấy bây giờ đã có nhiều người thành danh.
“Tôi có rất nhiều người bạn ở Lào. Không qua đó, tôi nhớ lắm, cứ như thiếu cái gì”. Ông nói vậy rồi chậm chạp đi chuẩn bị hành lý cho cuộc hành trình dài hơi đến đất nước mà ông suốt đời gắn bó.
Bài và ảnh: Lê Vi