Từ quê hương xã Thạch Mỹ, huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh), vào chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị hơn 3 năm, mũi trưởng đội trinh sát đặc công 20 của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 812, Sư đoàn 324 Lê Văn Chớ đã được 7 lần phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cùng 7 Huân chương Chiến công Giải phóng. Sau lần bị thương rất nặng với thương tật 61%, anh trở về hậu phương tiếp tục phục vụ chiến đấu, rồi góp công sức xây dựng lại quê hương sau chiến tranh.
Thời chiến: 7 lần dũng sĩ
Sau mấy tháng nhập ngũ, ngày 16-1-1967, Lê Văn Chớ vào chiến trường miền Nam chiến đấu trên đất lửa tỉnh Quảng Trị. Người chiến sĩ trẻ này đã hăng hái dũng cảm tham gia tất cả các trận đánh lớn nhỏ của Tiểu đoàn. Anh được chỉ định làm mũi trưởng trinh sát đặc công của Tiểu đoàn, xông vào những nơi hiểm yếu. Chỉ sau hơn một năm chiến đấu, đêm 2-4-1968, trong một căn hầm bí mật nơi vùng ven thị xã Quảng Trị, Lê Văn Chớ được vinh dự kết nạp vào Đảng.
Trong hàng trăm trận đánh anh tham gia thì trận ngày 19-5-1970 ở phía tây huyện Hải Lăng là trận khốc liệt nhất với anh - và cũng là bước ngoặt cuộc đời của người chiến sĩ này. Đã gần 40 năm trôi qua, Lê Văn Chớ vẫn còn nhớ rõ diễn biến của sự kiện liên quan tới số mệnh của mình do các chiến hữu cùng Tiểu đoàn kể lại: Tiểu đoàn anh có nhiệm vụ tiêu diệt Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 54 ngụy được trang bị đầy đủ, có máy bay, xe tăng yểm trợ. Mũi chủ công của anh đã tiêu diệt được sở chỉ huy và trung tâm thông tin của địch. Sau khi băng bó vết thương đầu tiên ở tay, Lê Văn Chớ dẫn đồng đội tiếp tục xông lên chiến đấu. Chiến sĩ Lê Văn Phi hy sinh, chiến sĩ Tạ Văn Hợi bị thương, còn Lê Văn Chớ bị trúng đạn lần thứ hai. Viên đạn xuyên từ lưng ra bụng, ruột đứt làm 4 đoạn và trào ra ngoài, đứt động mạch treo bên trong, máu chảy đầy ổ bụng. Tiểu đoàn phó Nguyễn Phi Khương (về sau là Đại tá, Sư đoàn trưởng, nay nghỉ hưu ở Hà Tĩnh) dùng bát B52 úp vào bụng, lấy mũ tai bèo quấn chặt bụng đưa Lê Văn Chớ về trạm cứu thương dã chiến của mặt trận.
Trận này, Tiểu đoàn có 10 liệt sĩ (kể cả Lê Văn Chớ), 10 huyệt đã được đào sẵn. Đồng đội đứng nghiêm tiễn biệt các chiến hữu vừa ngã xuống. Đến người thứ 10 được đưa xuống huyệt thì bỗng nhiên “liệt sĩ” này còn thoi thóp phập phồng trong quan tài làm bằng túi ni lông dã chiến! Mọi người mừng quá, đưa ngay vào phòng phẫu thuật (“phòng” ở đây là hầm sâu dưới đất ngay sau trận địa).
Chiến sĩ Đua (quê Thái Bình) nhảy vào hầm quay đi-na-mô phát điện để mổ khẩn cấp. Bác sĩ Nguyễn Đình Cận, các y sĩ Cảnh, Thành, các y tá, trợ lý... đã hoàn thành cuộc phẫu thuật dã chiến. Và người dũng sĩ 21 tuổi Lê Văn Chớ đã được trở về với đồng đội từ cõi chết sau trận đánh đó.
Thời bình: Làm giàu và chăm lo việc từ thiện
 |
|
Dũng sĩ Lê Văn Chớ đến thắp hương tưởng niệm người bạn chiến đấu đã hy sinh.
|
Sau ngày đất nước thống nhất, Lê Văn Chớ trở về công tác ở Bộ Chỉ huy quân sự Hà Tĩnh. 3 năm sau anh phục viên trong hoàn cảnh chung của đất nước vừa mới thoát khỏi cuộc chiến tranh tàn khốc còn gặp muôn vàn khó khăn. Anh cùng vợ đã phải xoay xở đủ mọi “nghề”, mọi “cách” để kiếm sống, để “tự cứu lấy mình”. Rửa xe, xây nhà thuê, chạy chợ, rồi trồng lúa, làm vườn..., thế mà cái đói nghèo vẫn đeo bám mãi. Nhưng vốn có sẵn trong mình tinh thần, ý chí và nghị lực, Lê Văn Chớ không hề chùn bước trong suy nghĩ và hành động. Được “thời đổi mới” mở cửa, anh đã cùng một số chiến hữu từng vào sinh ra tử năm xưa bàn bạc với nhau cách làm ăn mới. Năm 1993 họ đã cùng nhau xây dựng nên Hợp tác xã 27-7 do anh làm chủ nhiệm. Các xã viên của Hợp tác xã là hàng trăm con em liệt sĩ, thương bệnh binh, các cựu chiến binh, thanh niên xung phong... Hợp tác xã này có đủ mọi nghề, từ mộc, nề, hàn, tiện cho tới các dịch vụ cần cho dân quanh vùng v.v.. Rồi còn thêm các trại chăn nuôi, ao cá, làm vườn, ươm cây...
Năm 1998, khách sạn Hoàng Anh của Hợp tác xã 27-7 ra đời trên địa bàn thị trấn Cày ở huyện Thạch Hà. Hoạt động phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng, đáp ứng được nhu cầu người lao động, hằng năm doanh thu đạt 500 - 700 triệu đồng, nộp ngân sách nhà nước khoảng 100 triệu đồng. Những năm đầu, người lao động có mức thu nhập 800 nghìn đến 1 triệu đồng/tháng, nay đã lên 1,5 - 2 triệu đồng/tháng.
Ghi sâu trong lòng những tháng ngày thắm thiết tình quân dân nơi đất lửa Quảng Trị, tưởng nhớ các đồng đội ngã xuống trên chiến trường, Lê Văn Chớ luôn sẵn sàng tài trợ và vận động ủng hộ phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”. Anh luôn xót xa với những số phận bất hạnh, cứu trợ các gia đình nghèo đói khốn khó, những đứa trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em lang thang, người già không nơi nương tựa ở địa phương mình, sẵn sàng trợ giúp vật chất cho các thân nhân liệt sĩ, thương binh gặp khó khăn trong đời sống.
Khách sạn Hoàng Anh của giám đốc Lê Văn Chớ đã giúp đỡ rất nhiều cán bộ quân đội, cựu chiến binh, thanh niên xung phong và thân nhân gia đình liệt sĩ về nơi ăn chốn nghỉ trong hành trình vào Nam - ra Bắc thăm viếng, tìm mộ liệt sĩ.
Nhiều lần ông cùng một số đồng đội về thăm lại các cơ sở cách mạng đã từng nuôi giấu các anh trong hầm bí mật. Anh vẫn còn ghi lòng tạc dạ một sự kiện thấm đẫm tình quân dân: Sau một trận đánh khốc liệt, 14 thương binh được cáng về hậu cứ (ở rừng miền tây Quảng Trị) khi đến địa phận xã Hải Trường thì bị địch phục kích bắn chết. Bọn địch phơi xác 14 liệt sĩ trên quốc lộ để hăm dọa nhân dân suốt 3 ngày. Mẹ Phan Thị Nữ (mẹ của liệt sĩ Nguyễn Văn Thích hy sinh năm 1968) cùng hai con dâu là bà Lê Thị Thừa và Nguyễn Thị Chính đã vận động bà con ra sức đấu tranh với địch để đưa được thi hài 14 liệt sĩ đó về chôn cất trong vườn các gia đình trong vùng này như gia đình các ông Lê Văn Tía, Trần Văn Ngỏi, các bà Hồng, bà Vang, bà Vẻ, Trương Thị Lựu, Dương Thị Nữ ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Nhân dân đã chăm lo hương khói cho các liệt sĩ này.
Với những đồng đội còn nằm lại nơi chiến trường chưa được quy tập về nghĩa trang, Lê Văn Chớ đã dùng một phần lợi nhuận thu được để đi tìm kiếm thi hài các liệt sĩ. Đặc biệt, anh đã cùng với các đồng chí trong đơn vị cũ như Thiếu tướng Nguyễn Minh Long (nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 812, Cục phó Cục Tác chiến-Bộ Tổng tham mưu) và Đại tá Cao Xuân Đại (cựu chiến binh Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 812)... lặn lội qua 72 nghĩa trang ở Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế tìm kiếm, ghi chép và quy tập được 1.250 thi hài liệt sĩ trong số hàng nghìn chiến sĩ của Trung đoàn hy sinh trong 9 năm chiến đấu nơi đất lửa.
Để công việc đạt hiệu quả, anh cùng một số bạn chiến đấu đã chủ động phối hợp với tổ chức tìm kiếm quân nhân mất tích của Mỹ (MIA) trong công việc tìm kiếm thi hài các chiến sĩ hy sinh của Trung đoàn 812. Phía MIA đã chỉ dẫn cho ta hai vị trí mà người Mỹ đã chôn các liệt sĩ của ta trong các hố chôn tập thể, tra tìm hài cốt một số chiến sĩ đã hy sinh ở các căn cứ Mỹ, một số bị Mỹ bắt đưa về Huế. Gần đây nhất có hai cựu chiến binh Mỹ đã cung cấp sơ đồ 173 mộ liệt sĩ thuộc Tiểu đoàn 4 của anh trong trận đánh chống lấn chiếm tại Cồn Tiên (huyện Gio Linh) ngày 8-5-1967, 108 liệt sĩ của Trung đoàn 29 cùng Sư đoàn 324 ở A Bia (huyện A Lưới, Thừa Thiên-Huế)... Hiện nay, anh vẫn tiếp tục tâm huyết với công việc nghĩa tình đồng đội cao quý này. Đặc biệt, anh là người nhiệt thành đi đầu trong việc thông tin liên lạc gặp gỡ các đồng đội - chiến hữu hằng năm, quan tâm thăm hỏi động viên nhau trong cuộc sống hiện tại.
Lê Văn Chớ-mũi trưởng xung kích, dũng sĩ thời chiến ngày xưa vẫn mãi mãi là dũng sĩ, là mũi trưởng xung kích của thời bình ngày nay.
Bài và ảnh: Nguyễn Hữu Dy