Ba chiếc ba lô cóc vải bạt màu cỏ, phồng căng đồ đạc đủ "cơ số" của sĩ quan quân đội đi B bao gồm: Quần áo, chăn màn, tăng võng, thuốc tây, thuốc tăng lực, thuốc chống muỗi, thuốc lọc nước, đèn pin… Một chiếc hăng-gô để tự nấu ăn, một bi-đông đựng nước uống. Hai thứ này nằm trong túi cóc ba lô. Ngoài ra, mỗi người một dao găm, một khẩu súng ngắn K54 là vật bất ly thân, nằm trong bao da luôn thắt bên hông. Duy Khán, Gia Dũng và tôi mặc quân phục xuân hè vải Tô Châu mới tinh, đi dép râu vừa mới phát, mang ba lô, leo lên chiếc ô tô Bắc Kinh đít vuông, ghế dọc, do anh Phạm Hồ lái. Nhà thơ Vũ Cao, Chủ nhiệm Tạp chí Văn nghệ Quân đội ra tiễn sát lề đường Lý Nam Đế. Ông bắt tay từng người, chúc hoàn thành nhiệm vụ và nhắc lái xe nhớ chạy một vòng quanh hồ Hoàn Kiếm trước khi nhập trạm giao liên. Thì ra đó là cái lệ có từ hơn mười năm trước của Văn nghệ Quân đội. Mỗi một cán bộ đi công tác ở chiến trường miền Nam, gọi là đi B, trước khi lên đường, bao giờ lái xe cũng đưa đi một vòng để từ biệt Hà Nội, rộng thời gian thì vòng ra đến đường Thanh Niên rồi qua các khu phố cổ, vội thì cũng phải vòng quanh hồ Hoàn Kiếm. Các nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Thi), Nguyễn Trọng Oánh, Nguyên Ngọc, Triệu Bôn… đều đã từ giã Hà Nội theo cách đó.
 |
|
Nhà thơ Vương Trọng
|
Như phần lớn cán bộ ở Hà Nội đi B thời ấy, chúng tôi nhập trạm giao liên đầu tiên ở Thường Tín. Duy Khán là thượng úy, trưởng đoàn, anh là cán bộ trung cấp nên tiêu chuẩn hơn Gia Dũng và tôi một củ sâm bằng ngón tay út, nhưng anh đã bẻ cho mấy bạn cùng phòng "thưởng thức" ngay khi mới nhận về, nên đồ đạc trong 3 ba lô bây giờ hoàn toàn giống nhau, chỉ khác nhau ở vị trí buộc chiếc khăn mặt. Tôi quen Duy Khán từ cuối năm 1972, khi cả hai cùng về học lớp Bồi dưỡng sáng tác của hội Nhà văn Việt Nam khóa 5, còn gọi là khóa B52 bởi học được vài tháng thì B52 ném vào Hà Nội, nhà trường cho học viên đi thực tế về các trận địa cũng như những khu dân cư bị đánh phá. Duy Khán là lớp trưởng, một ông lớp trưởng hết sức phóng túng và hồn nhiên được học viên yêu thích nhưng bị thầy giáo Nguyễn Xuân Sanh nhắc nhở.
Hơn mười giờ đêm ngày 14-4-1975, chúng tôi được giao liên dẫn lên tàu. Khi tàu chạy mới nhận ra một điều kì lạ là cả toa tàu chỉ có ba chúng tôi, nên tha hồ căng võng ngang tàu nằm đung đưa theo nhịp tàu chạy. Thế là xa Hà Nội thật, chẳng biết khi nào mới trở lại. Đáng ra đoàn chúng tôi xuất phát từ cuối năm 1974 theo kế hoạch, nhưng rồi vì một vài nguyên nhân nên mới lùi lại đến lúc này. Ba chúng tôi được nhà thơ Vũ Cao giao nhiệm vụ cùng vào Tây Ninh, ở cơ quan Văn nghệ quân giải phóng mà nhà văn Nguyễn Trọng Oánh đang phụ trách. Duy Khán và Gia Dũng sẽ được bổ sung cho cơ quan đó, làm quân ông Oánh (như lời của Vũ Cao); còn tôi vẫn là người Văn nghệ Quân đội, trước mắt vào chỗ ông Oánh, sau đó sẽ tìm cách đi thực tế đồng bằng sông Cửu Long dưới quyền kiểm soát của Mỹ ngụy. Hôm giao nhiệm vụ, nhà thơ Vũ Cao nhìn tôi có vẻ ái ngại cho nhiệm vụ nặng nề và nguy hiểm đó, rồi ông bảo tôi tìm gặp anh Minh Khoa, một cán bộ người Nam Bộ, công tác trong ấy vừa mới ra Bắc an dưỡng, hiện đang nghỉ tại Trạm 66. Khi nghe tôi nói lý do đến thăm, Minh Khoa hỏi tôi: "Có biết bơi không?". Tôi trả lời rằng không, làm anh lặng thinh suy nghĩ. Rồi anh nói: "Đồng bằng Nam Bộ toàn sông ngòi, kênh rạch. Anh vào đó hoạt động bất hợp pháp, đi đêm về hôm, không biết bơi kể ra cũng gay. Phải tìm cách khắc phục thôi, như một số anh em không biết bơi vẫn làm. Tìm hai trái dừa khô, hai tấm ni-lông buộc vào làm phao, không sợ chìm, có thể bơi qua sông được". Tôi hình dung mà khủng khiếp, nhưng chẳng sao, đó chỉ là chuyện tương lai, còn trước mắt phải vào đến Trung ương Cục ở Tây Ninh đã.
Đến tối, khoảng chín giờ thì vào đến ga Vinh. Thử thách đầu tiên là mang ba-lô nặng, lại thêm bảy cân gạo của mỗi người mà trạm Thường Tín mới bổ sung, đi bộ từ ga Vinh đến trạm giao liên tại một xã của huyện Hưng Nguyên. Dạo ấy tôi rất gầy, chừng 45 cân, thắt lưng quân nhu gần thắt được hai vòng bụng; mang nặng, mỗi bước thì khẩu súng K54 lại va vào đùi, đến khốn khổ. Thật khuya mới tới được trạm giao liên, ăn uống qua loa rồi mỗi người phải tự tìm lấy nơi nghỉ, vì quân quá đông, trạm không sao lo xuể. Không khí ở trạm giao liên này ngược hẳn với trạm Thường Tín, nhà cửa chẳng thấy đâu, chỉ toàn người là người, hầu hết là lính mới toanh, tuổi ngoài ba mươi như chúng tôi thật hiếm. Tôi nhớ vùng ấy vườn toàn đất cát, có nhiều cây phi lao, ba chúng tôi mắc võng giữa trùng trùng võng lính. Duy Khán và Gia Dũng chuyền nhau bi đông rượu mới mua trước khi lên ga Thường Tín, cộng với mỏi mệt nên ngủ khá nhanh. Tôi trằn trọc không sao ngủ được, nhiều nhất là nhớ về bệnh viện Việt-Tiệp ở Hải Phòng. Tôi cưới vợ chưa được hai tháng thì đi B, trước ngày lên đường, tranh thủ về Hải Phòng thì gặp vợ phải vào điều trị ở bệnh viện. Bác sĩ bảo rằng chưa thấy ai ốm nghén lại dữ dội như vợ tôi, ăn bất cứ thứ gì cũng nôn cho bằng hết. Hôm tôi vào viện thấy vợ gầy xanh, đang nằm quay mặt vào tường thì nghe tiếng tôi, quay lại. Tôi hỏi cần ăn gì để mua, chỉ lắc đầu, cuối cùng bảo tôi mua vài quả cam. Tôi vội vàng chạy xuống phố, vào hết mọi hàng quán nhưng không đâu có bóng dáng một quả cam nào. Thế là tôi phải trở lại với vợ bằng hai bàn tay không, đó là điều ân hận lớn nhất lúc này. Thôi nghĩ về người vợ ở Hải Phòng lại nghĩ về quê Đô Lương chỉ cách chừng sáu chục cây số, mà không sao ghé về thăm được. Đêm đó giấc ngủ tôi chòng chành giữa quê mình, quê vợ.
Sáng hôm sau chúng tôi cùng tân binh được xếp lên những chiếc xe tải zin ba cầu, qua cầu phao Bến Thủy, vào Hà Tĩnh, Quảng Bình, qua cầu Hiền Lương, vào Đông Hà, rẽ đường Chín vào trạm giao liên Cam Lộ. Sau đây là vài đoạn nhật ký tôi ghi ở Cam Lộ ngày ấy.
"Ngày 19-4. Sau mấy ngày toàn ăn thịt hộp, ruốc cá, miệng thèm rau lạ lùng. Những đứa trẻ quanh vùng mặc quần áo pha ni-lông thật đẹp, thứ vải tôi chưa từng thấy ở miền Bắc, thường hái những rổ rau sam, rau dền, rau khoai… đến đổi cho bộ đội để lấy lương khô, gạo hoặc cơm thừa cũng được. Lính cần rau, mà gạo lại nhiều, cả một kho đầy. Ba chúng tôi ân hận vì mang gạo từ Thường Tín. Biết thế này, vào đây lại lấy, có đỡ mang không".
"Đã ba ngày ở lại Cam Lộ, vẫn chưa có xe chở vào phía trong. Nguyên nhân là vì đoàn văn nghệ, không ai ưu tiên đi vội làm gì, xe cộ dành cho lính vào chiến đấu. Duy Khán lên khiếu nại với trưởng trạm, vẫn không được đi vào phía trong, nhưng họ nói nếu muốn vào Huế, Đà Nẵng tham quan rồi trong ngày quay ra Cam Lộ thì được. Thế là cả ba quyết định đi một chuyến.
"Trong số chị em giao liên phục vụ ở trạm này có mấy người đồng hương Nghệ An, một cô tên là Minh, quê ở Diễn Châu, chừng hai mươi tuổi, rất xinh, chuyên mặc đồ đen. Tôi nói với Duy Khán rằng, khi cô Minh đội mũ tai bèo thì trông giống một cô giao liên trên sân khấu, hơn là giao liên thật trong đời. Biết chúng tôi sắp vào Huế, Đà Nẵng rồi lại trở lại binh trạm, Minh nhờ tôi mua hộ một quyển sổ tay, và nói thật cảm động: "Em nó chẳng bao giờ xin em chi cả. Nay nó viết thư xin em một quyển sổ. Em từ trước tới nay chỉ ở trong rừng, chẳng có cách nào tìm được. Anh nhớ mua cho em một quyển, bao nhiêu tiền em cũng trả". Thế mà vì chuyến đi ấy quá vội vàng, tôi quên mua. Khi tôi trở về, Minh biết vậy buồn muốn khóc. Tôi liền lấy một quyển sổ công tác của Văn nghệ Quân đội phát cho trước khi đi, đưa cho Minh. Cô ta cầm đồng bạc trong tay, lóng ngóng định trả tôi. Tôi bảo: "Tôi tặng đồng hương đấy. Sổ này không phải mua đâu mà phải trả tiền". Mặt Minh đỏ lên: "Anh không cầm tiền thì em rầy lắm"…
Thời gian ở Cam Lộ, vui nhất có lẽ cái tối nghe đài Sài Gòn theo dõi buổi từ chức của Nguyễn Văn Thiệu. Nếu tôi nhớ không nhầm thì đó là đêm 21 tháng Tư. Mờ sáng hôm sau chúng tôi gọi nhau ra một hố bom, đặt xuống đáy hố một vỏ đồ hộp, cả ba lần lượt rút súng ngắn của mình ra, mỗi người bắn ba phát, để ăn mừng chuyện Thiệu từ chức. Thế mà sau chín phát đạn nổ rất giòn, vỏ đồ hộp vẫn không suy suyển, mới biết bắn trúng đích chẳng dễ chút nào! Từ hôm đó niềm tin giải phóng đất nước trong dịp này hiện hữu trong mỗi chúng tôi nên ai cũng muốn đi nhanh cho kịp thời cơ. Chúng tôi đã hiểu nguyên nhân làm đoàn đi chậm là vì hai chữ Văn nghệ; bởi thế nên thống nhất nhau lên gặp ông trạm trưởng, trình ba thẻ nhà báo và đổi tên đoàn thành Đoàn Nhà báo. Thật hiệu nghiệm, sau đó được rời khỏi trạm giao liên Cam Lộ.
Tôi nhớ có một đêm đoàn quân nghỉ lại ở một bãi đất trống gần bờ sông Thu Bồn, thuộc tỉnh Quảng Nam. Khi chúng tôi trải tăng lên mặt đất chuẩn bị nghỉ đêm thì thấy có nhiều ngọn đèn dầu tiến vào khu vực đóng quân. Chắc chắn đó không phải là bộ đội, vì mỗi chúng tôi đều có một chiếc đèn pin được phát, nằm trong "cơ số đi B". Chẳng mấy chốc, thấy một bóng đèn đi thẳng vào chỗ chúng tôi, bàn tay khum khum che cho gió khỏi tắt, giơ chiếc đèn dầu lên soi vào mặt từng người. Đó là một bà già tuổi chừng bảy mươi, hỏi ra mới biết bà có đứa con đi tập kết 21 năm trước, mấy ngày nay bà đến các đoàn quân để tìm con mình. Không biết sau đó bà có tìm thấy con trai hay không, nhưng hình ảnh một người mẹ già tay nâng ngọn đèn dầu soi từng khuôn mặt lính để tìm con trong đêm tháng tư đầy gió thì ám ảnh tôi lâu dài…
Chúng tôi đến Sài Gòn, hỏi thăm Văn nghệ Quân giải phóng thì biết đã chuyển về đóng tại số 2 Hồng Thập Tự (tức Xô Viết-Nghệ Tĩnh). Thiếu tá Nguyễn Trọng Oánh nở nụ cười hiền lành nhưng có vẻ dửng dưng, không đúng vai của một người chủ đón khách từ xa đến. Sau này tôi mới biết đó là đặc tính của ông, lòng tốt ẩn giấu ở lâu sẽ biết, không bao giờ tỏ ra vồ vập với bất cứ ai…
Thế mà đã ba mươi lăm năm trôi qua. Gia Dũng xuất ngũ từ lâu, Nguyễn Trọng Oánh cùng Duy Khán trở thành người thiên cổ ngót hai chục năm trời. Tôi đã nghỉ hưu với vợ con ở Hà Nội. Rõ ràng lần vòng quanh Hồ Gươm với ba chúng tôi chỉ là tạm biệt. Có người bảo tôi có số may, nếu như đoàn khởi hành theo kế hoạch vào cuối năm 1974, hoặc là cuộc chiến tranh kết thúc chậm mấy tháng, tôi một mình phải lặn lội trong vùng địch ở đồng bằng sông Cửu Long như đã định, thì chắc gì còn có dịp để viết Bên mộ cụ Nguyễn Du cùng nhiều bài thơ khác sau này. Vào Sài Gòn được vài tuần, tôi đi về đất mũi Cà Mau. Khi qua phà sông Hậu rộng hút tầm mắt, nhớ về chuyện hai quả dừa khô mà rùng mình.
Nhà thơ Vương Trọng